Thursday, 10 November 2011

CHÂN LÝ GIÁC NGỘ
 
Triết lý nói chung, dù là minh triết á đông hay triết học tây phương, đều đụng đến một vấn đề cốt lõi: Thực tại là gì? Vấn đề thực tại là gì lại đưa đến một vấn đề căn bản và nồng cốt hơn là nhận thức luận. Con người có khả năng nào để nhận thức được thực tại? Ta lấy gì để bảo đảm cho khả năng nhận thức này là đúng? Dù rằng tâm đạo á đông không khởi đi từ những thắc mắc mang tính tri thức, mà khởi đi từ những nhu cầu thực tiễn: làm sao cho con người sống an vui, hạnh phúc, thì tâm đạo á đông vẫn phải đụng đến vấn đề thực tại và nhận thức. Trong ý nghĩa ấy, hôm nay chúng ta tìm hiểu về một điểm căn cốt nhất trong quan niệm Phật Giáo: Chân lý giác ngộ.

1. Giác ngộ là gì?
"Giác Ngộ", một danh từ nhà Phật được dịch từ chữ bodhi trong tiếng Phạn, chỉ một trạng thái thức tỉnh, lúc một người bỗng nhiên trực nhận được Tánh Không Huyền Nhiệm.
Trước hết, chúng ta cần phải hiểu Tánh Không theo quan niệm Phật Giáo có nghĩa là gì? Chữ "không" dùng trong Tánh Không, không phải là một thứ không tiêu cực, là không có gì, là sự trống rỗng thông thường; nhưng là một thứ không theo một nghĩa rất huyền nhiệm. Do đó, Tánh Không trong Phật Giáo chỉ về một Thực Thể Vô Biên, không thể dùng suy nghĩ của trí óc để mô tả, đồng thời cũng không thể dùng cảm nhận giác quan mà đo lường được. Hay nói một cách khác, Thực Thể Vô Biên mà người giác ngộ trực nhận, thì không một hình ảnh nào, không một ngôn ngữ nào, không một ý niệm nào nơi trần gian này có thể diễn tả nổi. Hơn nữa trong Kinh Kim Cang còn đề cập đến Tánh Không này như là một Thực Thể Tuyệt Đối, "bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm". Do đó mà chữ "không" này là một kiểu bảo vệ "Chân Lý Tuyệt Đối" đến tận cùng để đừng bao giờ đóng khung, uốn nắn "Tuyệt Đối" theo trí hiểu phàm trần. Đây là một lối diễn tả tương tự như đường lối của thần học phủ định.
Chính vì thế, các Thiền Sư gọi "giác ngộ là tỉnh biết, là hiểu, là lãnh hội được chân lý. Giác ngộ là khám phá ra một ý thức mới. Trong ý thức này con người biết mình được Thực Thể Tuyệt Đối bao trùm và trở nên một với Ngài."[1]
Dưới cái nhìn của các nhà thần học Kitô giáo, giác ngộ chính là một sự thức tỉnh tôn giáo. Sự thức tỉnh tôn giáo xảy ra khi sự nhận biết Thực Thể Tối Hậu của con người đạt tới mức thực nghiệm. Sự thức tỉnh này cũng xảy ra khi con người gạt bỏ được những thứ che lấp họ. Và khi đó, họ như đụng chạm được với Thực Thể Tối Hậu, Đấng trổi vượt trên hết mọi sự, nhưng đồng thời bao trùm mọi sự (x. Eph 1,23). Nhận thức trổi vượt này xảy ra khi con người dùng con mắt bên trong, hay còn gọi là trực giác để vượt qua tất cả những căng thẳng của đối lập đồng thời thấm nhập vào sự duy nhất của Thực Thể Tuyệt Đối.[2]
Như vậy, giác ngộ chính là một trực giác tâm linh, là một khả năng sâu thẳm, toàn diện, trực tiếp và huyền diệu. Người giác ngộ là người trực nhận được một Chân Lý Tuyệt Đối mà Phật Giáo gọi là Tánh Không. Chính vì thế, dưới cái nhìn Kytô giáo, đã có ý kiến cho rằng giác ngộ chính là một thứ mạc khải tự nhiên theo kiểu minh triết á đông.[3]
2. Con đường đi đến giác ngộ
Theo giáo lý Phật Giáo, có muôn ngàn pháp môn tu luyện để có thể đạt đến đích cuối cùng là giác ngộ. Chúng ta có thể thấy rõ điều này trong lời kinh thứ ba của Tứ Hoằng Đại Nguyện: "Pháp môn vô lượng thệ nguyện học." Tuy có muôn ngàn pháp môn tu, nhưng tất cả đều có một nét chung, đó là giác ngộ chỉ "sanh khởi" sau việc hành thiền minh sát và thực thi bát chánh đạo.
Về hành thiền, đây là phương pháp cốt tuỷ của Phật Giáo nhằm mục đích "an trụ và hàng trụ" dòng tâm, bởi dòng tâm luôn "lăng xăng điên đảo như con ngựa, con trâu, con vượn, con khỉ, nếu không giàm khoá, không dùng vòng kim cô thì chẳng thể nhiếp phục được."[4] Mục đích của an trụ và hàng phục dòng tâm chính là nhằm gạt bỏ những lối nhìn thông thường của trí óc nhị nguyên phân biệt, chỉ căn cứ trên giác quan của con người. Chính vì thế mà Tâm Kinh Bát Nhã nói rằng: "sắc bất dị không, không bất dị sắc, tho,ï tưởng, hành, thức diệc phục như thị." Như thế, có thể nói thiền giúp cho con người ta thấy rõ hơn, vượt xa hơn sự thấy biết của giác quan. Đây là một lối tiếp cận chân lý khác hẳn với lối tiếp cận của tây phương và của khoa học thực nghiệm.
Bát chánh đạo là tám con đường (phép tu) chân chính: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Tám con đường này, theo truyền thống Phật Giáo, thường được gom lại ba điều chính là: tuệ (bao gồm chánh kiến và chánh tư duy), giới (chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mệnh), định (chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định). Mục đích của những phép tu này cũng giúp con người dần dà bỏ được những tạp niệm, đam mê và vô minh thường xảy ra qua thế giới vật chất luôn chuyển.[5] Khi đã gạt bỏ được những rào cản của tạp niệm, đam mê và vô minh, thì trí tuệ được khai mở. Đó là một thứ ánh sáng tuyệt đối. Nhờ sự soi sáng của ánh sáng này mà hết mê, hết lầm, hết bị cuốn hút, hết bị ràng buộc vào chốn thế cuộc. Tất cả mọi sự có hình tướng giờ đây chẳng là gì cả, tất cả đều coi như vọng tưởng.
Như vậy, hai con đường căn bản để đi đến giác ngộ đều giống nhau ở một điểm là giúp con người gạt bỏ những mê lầm, chỉ bám chấp vào những gì giác quan con người cung cấp. Có thể nói đây chính là những cách tiếp cận chân lý vượt trên các giác quan để có được một trực kiến chân lý.
3. Giác ngộ - một chân lý xác thực
Như đã trình bày trên, thì giác ngộ chính là một trực giác tâm linh. Người giác ngộ là người đã trực kiến được Chân Lý Tuyệt Đối. Chân lý này xác thực chăng? Chúng ta sẽ lần lượt xem xét chân lý này dưới một số nguyên tắc căn bản của nhận thức luận về chân lý.
Trước hết, chúng ta dựa vào câu định nghĩa chân lý của truyền thống kinh viện: chân lý là sự phù hợp giữa trí tuệ và thực tại. Câu định nghĩa này nếu được hiểu rộng ra thì để có được chân lý đòi hỏi phải có sự tương hợp giữa trí khôn và đối tượng được nhận biết. Nghĩa là đối tượng được nhận biết vẫn có đó từ trước, trí khôn nhận thức, phán đoán về đối tượng được nhận thức để có một ý tưởng diễn tả đúng như đối tượng vẫn là thế.
Đối với chân lý giác ngộ, đối tượng được nhận thức là "Tuyệt Đối". Chúng ta hãy xem, liệu những người đã giác ngộ có diễn tả đúng chân lý này chăng? Chúng ta có thể tìm thấy những lối diễn tả về "Tuyệt Đối" theo kiểu phủ định được tóm lược trong Kinh Kim Cang, là một kinh rất quan trọng của Phật Giáo đại thừa: đó là con đường vô tướng, bởi "phàm những gì có tướng đều là hư vọng". Và vô tướng cũng là vô ngôn, vô niệm. Như vậy, Kinh Kim Cang cho chúng ta thấy, chân lý này, không hình thế nào, không ngôn ngữ nào, cũng như không ý niệm nào của con người có thể diễn tả nổi. Một lần nữa, chúng ta phải nhắc lại, đây là một kiểu diễn tả, bảo vệ chân lý đến triệt để. Bởi đã là tuyệt đối thì không thể bị giới hạn trong một số hình ảnh, giới hạn trong một số ngôn từ và bị giới hạn trong một vài ý niệm được. Và chỉ có như thế, chúng ta mới có được một diễn tả về "Tuyệt Đối" rất tuyệt đối. Vậy phải chăng đã có sự tương hợp mà định nghĩa về chân lý đòi hỏi?
Kế đến, chúng ta nhìn chân lý giác ngộ dưới khía cạnh của những đặc tính của một chân lý. Các nhà kinh viện thường đưa ra ba tiêu chuẩn để nhận biết một chân lý: tính đơn nhất, bất khả phân và không biến dịch.
Về đặc tính đơn nhất của chân lý được hiểu đơn giản trong nguyên lý bất mâu thuẫn: một vật không thể vừa có vừa không trong cùng một khía cạnh. Do đó, Chân Lý Giác Ngộ không thể vừa tuyệt đối là vừa tương đối. Và rõ ràng chân lý giác ngộ đã được diễn tả trong các kinh kệ của Phật Giáo thì rất tuyệt đối, với những lối diễn tả "vô cùng", "vô tướng", "vô ngôn", "vô niệm", "lìa các tướng ấy là Phật vậy"... Bởi tất cả những gì còn có thể diễn tả, còn có thể nói ra được thì vẫn còn bị giới hạn, vẫn còn là tương đối. Chỉ có lối diễn tả phủ định như thế mới có thể bảo đảm cho Tuyệt Đối là tuyệt đối. Lão tử đã chẳng nói rằng, "Đạo khả Đạo phi thường Đạo" đó sao.
Về hai đặc tính còn lại của chân lý là bất khả phân và không biến dịch thì chúng ta lại càng dễ hiểu hơn với chân lý giác ngộ. Bởi đã là "Tuyệt Đối" thì muôn đời vẫn cứ là tuyệt đối. Nếu tuyệt đối còn có thể chia nhỏ ra được thì chưa thể là tuyệt đối. Lại nữa, cũng không thể có chuyện có các cấp độ trong tuyệt đối, không thể có thứ tuyệt đối rồi tuyệt đối hơn được, mà tuyệt đối chỉ có thể là tuyệt đối triệt để, tuyệt đối đến cùng mà thôi.
Đến đây, chúng ta đã có thể kết luận rằng chân lý giác ngộ là một chân lý xác thực. Tuy nhiên vẫn còn một vấn đề nữa trong nhận thức luận mà chúng ta cũng cần phải xét qua, đó là: mọi nhận thức đều thông qua giác quan. Việc nhận thức về chân lý giác ngộ liệu có khởi đi từ cảm giác hay không? Đã có không ít ý kiến phủ nhận nền tảng này trong giác ngộ. Những ý kiến này phần lớn dựa vào những câu kinh nhà Phật như: "chiếu kiến ngũ uẩn giai không", hay "vô sắc, vô thụ, tưởng, hành, thức". Thế nhưng, những chữ "vô" này cùng với những chữ "không" mà ta thấy trong các kinh kệ nhà Phật không nhằm phủ định các thực tại hữu hình, tức là chủ trương mọi sự là hư vô. Nhưng trên hết, đây là một kiểu bảo vệ chân lý cách mãnh liệt. Chính vì thế, mà một cách nào đó, để giác ngộ, người ta phải nhìn rõ được thực chất của thực tại thế trần, với những giới hạn của chúng. Không những thế, người giác ngộ còn vượt qua thực tại hữu hình để vươn tới "Tuyệt Đối". Như vậy, một cách nào đó, việc nhận thức chân lý giác ngộ vẫn có một nền tảng nào đó nơi giác quan con người.
KẾT LUẬN
Như vậy, giác ngộ quả thực là một trực giác tâm linh. Chân lý này không thể là một sản phẩm của trí tưởng tượng, nhưng là một cảm nhận. Người giác ngộ là người có thể trực kiến Chân Lý Tuyệt Đối. Hay nói một cách khác, người giác ngộ là người thực sự chiêm ngắm được chân lý ấy trong vẻ huyềm nhiệm của chính chân lý ấy. Đây là một điểm rất gần với Kitô giáo. Nếu có thể đối chiếu với mạc khải Kitô giáo thì đây thực sự là một mạc khải tự nhiên về Thực Tại Tuyệt Đối. Chính vì thế mà có thể nói rằng giác ngộ cũng là một con đường đi về với Tuyệt Đối, con đường rất phù hợp với người Á đông mà chúng ta cần phải lưu ý trong quá trình trình rao giảng tin mừng cho người Á đông. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).

No comments:

Post a Comment