Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?
Ðại sư Hám Sơn từng nói
hai câu như sau: "Chẳng đọc Pháp Hoa thì chẳng hiểu khổ tâm cứu đời của Như
Lai; chẳng đọc Lăng Nghiêm thì không nắm được then chốt về mê hay ngộ của tu
tâm". Ðích xác là như vậy, bởi Kinh Lăng Nghiêm bao gồm hết thảy các pháp,
nhiếp thọ hết mọi căn cơ, là pháp môn tinh tủy của các đời, là ấn chứng chính đề
thành Phật và làm Tổ. Vì lẽ đó, người tu thiền bắt buộc phải nghiên cứu kỹ lưỡng
bộ Kinh này, và hiểu thấu cảnh giới "năm mươi loại ấm ma" đặng tránh khỏi
sa vào vòng của Ma vương. Nếu không vậy, không có sự nhận thức cho rõ ràng, thì
bạ cảnh giới nào gặp phải cũng sanh tâm chấp trước, hành giả sẽ dễ nhập vào ma
cảnh, thành kẻ quyến thuộc của ma vương. Ðó là một điều cực kỳ nguy
hiểm!
Chẳng riêng Chú Lăng
Nghiêm phải thuộc lòng, mà Kinh Lăng Nghiêm thiền giả cũng phải thuộc nữa. Người
ta nói "thuộc sẽ nẩy cái hay", thời cơ tới sẽ có nhiều lợi ích, sẽ có sự cảm ứng
chẳng thể nghĩ bàn. Hễ người nào nghiên cứu văn học Trung quốc, tất phải đọc
Kinh Lăng Nghiêm, văn từ thì ưu mỹ, nghĩa lý phong phú, tóm lại là một bộ Kinh
lý tưởng.
Có một số tự cho mình là
học giả có hạng, chưa hề nghiên cứu sâu rộng về Ðạo Phật, đã tự nhận mình là
chuyên gia Phật học, tự nhận mình có đủ uy tín mà sự thực không hiểu Phật giáo
cho đến ngành ngọn, khinh xuất cho rằng Kinh Lăng Nghiêm là một kinh ngụy tạo.
Từ đó lại có một số, có dụng ý khác, ùa theo phụ họa. Ðúng là kẻ mù dắt kẻ mù,
thật đáng thương xót!
Tại sao người ta bảo
Kinh Lăng Nghiêm chẳng phải do đức Phật Thích Ca thuyết giảng? Chẳng qua vì
nghĩa lý trong bộ Kinh rất ư chân thật. Kinh đã nêu ra cho kỳ hết các căn bệnh
của thế gian, bởi đó mà các loài yêu ma quỷ quái, các loài quỷ trâu, quỷ rắn,
không còn cách nào hoành hành, phải hiện rõ nguyên hình của chúng. Từ đó chúng
tìm mọi cách để phá, chúng phải tuyên truyền Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy, thì
chúng mới có cơ để sinh tồn. Nếu như thừa nhận đây là lời Phật thuyết pháp thì
đối với chúng là không xong. Trước hết chúng không giữ được "Lời dạy về bốn loại
thanh tịnh", thứ hai chúng không tu tập được các "Pháp viên thông của hai mươi
lăm bậc thánh", thứ ba chúng không dám đối diện với các cảnh giới của "Năm chục
loại ấm ma".
Nếu như ai ai cũng đọc
Kinh Lăng Nghiêm, cũng hiểu rõ Kinh Lăng Nghiêm, thần thông của hàng ngoại đạo
sẽ hết linh ứng, thành ra vô dụng khiến cho không ai còn tin vào thần thông của
họ nữa. Ðó là lý do bọn thiên ma ngoại đạo chỉ còn tìm cách dèm pha, tuyên
truyền, bảo Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy.
Chẳng cứ chỉ những người
tại gia phỉ báng Lăng Nghiêm là Kinh giả, ngay cả những kẻ xuất gia cũng bắt
chước nói theo. Tại sao vậy? Bởi vì có một số xuất gia ít học, có khi không
thông chữ nghĩa, không xem được Kinh điển, trong khi đó văn Kinh Lăng Nghiêm lại
thâm thúy, ý nghĩa huyền diệu, khiến họ không hiểu được nên không làm sao phân
biệt được chân giả. Ðến khi nghe người ta bảo Kinh này là giả, Kinh kia là ngụy,
thì họ đâu có suy xét gì, người ta nói sao thì nhắc lại y hệt. Tự nhiên Kinh
Lăng Nghiêm bị lãnh tiếng oan là vì lẽ đó.
Lúc xưa tại Ấn Ðộ, Kinh
Lăng Nghiêm được liệt vào hàng quốc bảo và có lệnh cấm không cho mang những thứ
quý ra ngoại quốc. Những ai xuất cảnh đều bị khám xét gắt gao và, để phòng Kinh
lọt ra ngoài, các nhân viên hải quan thường đặc biệt chú ý đối với các Tăng xuất
cảnh.
Hồi đó tại Ấn độ - bên
Trung Hoa lúc đó là đời Ðường - một vị cao tăng pháp danh là Ban Thích Mật Ðế
(Paramiti) đã khổ công tìm mọi cách để mang Kinh Lăng Nghiêm qua Trung quốc. Sợ
bị phát hiện tại trạm kiểm soát, ông phải nghĩ ra cách giấu giếm, nhét Kinh vào
sâu trong cánh tay và sau cùng ông đã đổ lên bộ tại địa phận Quảng Châu. Lúc đó
là thời gian Tể tướng Phòng Dung bị Võ Tắc Thiên giáng chức xuống làm Thái Thú
Quảng Châu. Ban Thích Mật Ðế được Phòng Dung mời tới để phiên dịch bộ Kinh này
và chính Phòng Dung là người nhuận sắc cho bản dịch. Bởi vậy Kinh Lăng Nghiêm
biến thành một tác phẩm văn học có giá trị, rồi sau đó trình lên cho Võ Tắc
Thiên. Thời bấy giờ đương có tin đồn Kinh Ðại Vân là kinh ngụy tạo nên Hoàng Ðế
Võ Tắc Thiên không cho Kinh này được lưu hành.
Ðến khi Thiền sư Thần Tú
được phong làm Quốc sư rồi được cúng dường ở trong hoàng cung, một hôm Thiền sư
thấy được bộ Kinh này, thấy Kinh rất có lợi cho những hành giả tu thiền, mới cho
Kinh này được phổ biến. Từ đó Kinh Lăng Nghiêm mới được lưu hành ở Trung quốc.
Căn cứ theo truyền thuyết, Kinh Lăng Nghiêm là Kinh tối hậu truyền đến Trung
quốc, nhưng cũng là Kinh bị hủy diệt đầu tiên vào thời Mạt Pháp, sau mới đến các
Kinh khác, sau rốt còn lại một Kinh A-Di Ðà.
Ghi chú
: Thượng nhân Tuyên công chủ trương dứt khoát rằng Kinh Lăng Nghiệm
chính là tâm ấn của chư Phật, điều này ngàn vạn lần đích xác. Bởi vậy ngay sau
khi đặt chân tới Mỹ, Tuyên công liền giảng Kinh Lăng Nghiêm. Tại sao vậy? Phật
Pháp truyền bá tới đất Mỹ, thì Mạt Pháp sẽ biến thành Chánh Pháp, và đó là tâm
cơ của Thượng nhân trong sứ mạng nối tiếp huệ mạng Phật. Bài "Lăng Nghiêm Kinh
Thiển Giảng" sẽ được đưa đăng từng kỳ trong tạp chí Vạn Phật Thành Kim Cương Bồ
Ðề Hải, bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Nay xin thông báo cùng quý bạn độc
giả.
Phải
Thực Tập Bát Nhã Ba La Mật Ða
"Bồ-tát Quán Tự Tại, khi thực hành pháp thâm sâu Bát Nhã Ba La mật Ða, soi thấy năm uẩn là không, vượt hết mọi khổ ách."
Bốn câu trên chính là
tinh yếu của Tâm Kinh. Nay lược giảng như sau:
Quán Tự
Tại
nghĩa là hồi quang
phản chiếu, tự quán sát mình tự tại hay không tự tại? Nói khác là có ở đây hay
là không ở đây? Nếu như tự tại, có ở đây, tức tâm không chạy đi đâu để rong
ruổi, không đuổi theo các thứ duyên. Nếu như không tự tại, không ở đây, tức tâm
tán loạn, vọng tưởng rối bời, nếu quá đáng có thể đưa tới tình trạng khủng hoảng
thần kinh, tâm lúc nào cũng tìm cơ hội, mong mọi người đến cúng dường. Nếu có
những vọng tưởng như vậy quý vị sẽ không tự tại.
Còn như
"Bồ-tát" thì mọi hành vi đều hướng tới lợi ích của chúng sanh, coi
đó là mục tiêu duy nhất, tuyệt đối chẳng vì lợi ích của chính mình. Ý hướng của
kẻ phàm phu chúng ta thì ngược hẳn lại, tất cả đều nghĩ tới lợi ích của chính
ta, mà không phải vì lợi ích cho người. Bất cứ làm một công chuyện gì, trước
tiên phải tính thử xem có lợi cho mình hay không và khi thấy có lợi mới hành
động. Ðó chính là sự biểu hiện của lòng ích kỷ tự lợi. Bởi đâu mà thế giới chẳng
được hòa bình? Chính vì nguyên do đó. Quý vị tranh thì tôi đoạt lại, không có sự
tương nhượng lẫn nhau, từ đó mới có chiến tranh, gây nên những cảnh nước mất nhà
tan.
Vị Bồ-tát này
"thực hành pháp thâm sâu Bát Nhã Ba La Mật Ða", từ thời vô thủy
đến nay, đời đời kiếp kiếp đều thực tập pháp thâm sâu này, không có lúc nào gián
đoạn. Tu pháp Bát Nhã thâm sâu, tức là:
1. Không có tâm kiêu
ngạo, bởi kiêu ngạo là ngu si.
2. Không có tâm tự mãn,
bởi tự mãn là ngu si.
3. Thường có tâm hổ thẹn
(tàm quý); không có tâm hổ thẹn, tức là ngu si.
4. Không sanh tâm đuổi
theo các duyên (tâm phan duyên), bởi nếu để tâm rong ruổi theo duyên, tức là ngu
si.
5. Không sanh tâm sân
hận, bởi có sân hận là ngu si.
6. Không sanh tâm điên
đảo, bởi tâm điên đảo là tâm ngu si.
Chúng ta là những người
tu hành phải coi sáu loại tâm đó như là những tiêu chuẩn, hầu có thể xét đoán
những hành động của chúng ta có đúng với pháp hay không? Nếu đúng thì hành động
của ta là trí huệ, nếu sai thì là ngu si. Cũng có thể nói rằng siêng năng tu
giới định huệ, dập tắt tham sân si tức là trí huệ; không tu giới định huệ, không
diệt tham sân si là ngu si. Trí huệ và ngu si khác nhau là ở những điểm
đó.
Phải thực hành pháp Bát
Nhã thâm sâu, mới có thể soi thấu năm mươi loại cảnh giới ấm ma trong năm uẩn.
Trong sắc uẩn có mười loại ấm ma, trong thọ uẩn có mười loại, trong tưởng uẩn có
mười loại, trong tưởng uẩn có mười loại, trong hành uẩn có mười loại, trong thức
uẩn cũng có mười loại, cộng tất cả có năm mươi loại ấm ma. Tách ra từng phần thì
còn có vô số vô lượng, nếu người tu không cẩn thận sẽ dễ dàng đi vào cảnh giới
ma. Nói chung, hễ có tà tri tà kiến là thuộc về họ của ma, nếu là chánh tri
chánh kiến thì thuộc về họ của Phật.
Khi thực hành pháp thâm
sâu Bát Nhã Ba La Mật Ða thì sẽ nhận ra được minh bạch cảnh giới ma, không còn
bị ma lay chuyển. Tới lúc đó, ngoài khả năng soi thấu năm uẩn là không mà ta còn
vượt được hết mọi khổ ách. Năm uẩn là không, có nghĩa là Chân Không. Có câu
nói:
Chân Không vô nhân ngãÐại Ðạo vô hình tướng.
Dịch là:
Chân không, không người không taÐạo lớn, không hình không tướng.
"Hết mọi khổ
ách"
tức là nói các khổ
trong ba thứ tai, tám thứ nạn (tam tai bát nạn).
Nếu như theo đúng pháp
trong bốn câu Kinh nói trên để tu tập, tu cho đến rốt ráo thì hành giả đã đạt
tới trình độ chế ngự được bát phong. Thế nào là bát phong? Ðó là tám món gồm
khen, chê, khổ, vui, lợi, suy, phỉ báng và vinh dự. Những thứ này coi như
tám ngọn gió có thể làm lay chuyển và quay cuồng những ai không đủ định lực. Nay
giảng sơ qua như sau:
Khen: Khen hay xưng tán.
Nếu có người xưng tán mình một câu, mình nhận được một cảm giác rất ngọt ngào,
còn hơn là mật nữa và mình thấy thoải mái.
Chê: Chê là chê bai. Như
có người chê bai mình, mình không thích, trong lòng không thoải mái.
Khổ: Ðây là khổ não. Gặp
chuyện gì phiền hà mình cảm thấy khổ sở. Khi gặp phiền não, mình hãy thử xem ta
chịu được không?
Vui: Vui hay khoái lạc.
Gặp điều vui sướng không nên lấy làm đắc ý. Mọi điều khoái lạc đến thì chúng ta
hãy coi đó là một sự khảo nghiệm, để thử xem tâm ý của mình ra sao.
Lợi: Ðây là lợi ích.
Ðược lợi ích mình cảm thấy vui, bị thiệt hại mình cảm thấy buồn, đó là sự biểu
hiện của sự yếu kém định lực.
Suy: Suy nghĩa là suy
bại. Gặp bất cứ sự gian nan đến đâu, chúng ta không nao núng, có thất bại cũng
không động tâm.
Phỉ báng; Ví dụ có người
nói xấu mình, mình không quan ngại! Mình coi chuyện đó như không có gì, tự nhiên
sóng gió sẽ hết.
Vinh dự: Như có người
xưng tán mình, vinh danh mình, mình cũng không nên cảm động. Chỉ nên coi các thứ
công danh như phù vân.
Tám loại gió này chính
là một pháp môn dùng để khảo nghiệm tâm của người tu. Gặp thuận cảnh hay nghịch
cảnh tâm đều không động. Nếu động tức là tu trì chưa đúng, định lực yếu kém; nếu
không động thì người tu đã có công phu. Tuy nhiên, không nên tự mãn, như đại
khái tự khoe rằng: "Bát phong thì cũng chẳng lay động ta, định lực của ta kiên
cố ví như kim cương ". Thái độ này là sai rồi.
Thuở xưa, vào đời nhà
Tống có vị cư sĩ là Tô Ðông Pha, đã từng nghiên cứu ít nhiều về Phật Pháp. nhưng
công phu thiền định thì còn yếu kém. Tuy nhiên, ông cho rằng định lực của ông
cũng đã khá. Có một hôm, nhân nguồn cảm hứng dạt dào, ông làm bốn câu kệ
sau:
Khể thủ thiên trung thiênHào quang chiếu đại thiênBát phong xuy bất độngÐoan tọa tử kim liên.
Tạm dịch:
Khấu đầu lạy chư thiênHào quang chiếu đại thiênTám gió lay chẳng độngSen vàng ngồi ngay ngắn.
Lúc đó ông tự nghĩ rằng
mình đã khai ngộ, nên muốn có sự ấn chứng của Thiền sư Phật Ấn. Ông sai người
qua sông mang bài kệ tới chùa Kim Sơn.
Thiền sư xem qua liền đề
bốn chữ: "Ðánh giắm! Ðánh giắm!", ngay trên tờ giấy có bài kệ, rồi đưa cho thị
giả mang về. Tô Ðông Pha xem xong, lửa vô minh bốc cao lên ngùn ngụt. Ông giận
dữ: "Sao lại có chuyện này? Ðây là bài khai ngộ! Bảo là đánh giắm là nghĩa gì?"
Nói rồi, ông đi qua sông kiếm Thiền sư Phật Ấn để chất vấn.
Chẳng dè khi đến cổng
chùa, Thiền sư Phật Ấn đã đứng chờ sẵn, thấy ông đi tới thì cười lớn: "Ồ! Xin
chào mừng Ðại Học Sĩ họ Tô, bát phong không lay chuyển, nhưng lại bị cái giắm
đẩy qua sông tới đây! Xin chào mừng!" ( Hai ông chính là bạn thân, thường vui
đùa với nhau). Tô Ðông Pha đương lúc cơn giận tràn hông, sắp sửa bùng ra, nghe
Thiền sư nói mấy câu, xét lại thấy có lý, bèn nhìn nhận công phu mình còn non
nớt, nên hướng tới Thiền sư lễ tạ. Kể từ đó ông bỏ thói "khẩu đầu
thiền".
Thiền là thực hành,
chẳng phải nói suông. Chỉ nói mà không làm được, điều đó vô nghĩa.
Tại Thiền đường, chúng
ta phải tuân theo quy củ của Thiền đường, không thể lập dị để hành động theo ý
riêng của mình. Phải nhớ rằng Thiền đường là nơi đào tạo thánh nhân, nên không
thể phá hoại Ðạo tràng, làm mất cơ hội khai ngộ của người khác. Về điểm này
những người tham dự thiền thất phải đặc biệt chú ý, phải giữ giới luật một cách
nghiêm cẩn, chớ không thể coi nhẹ.
Dự thiền thất cũng là
một cơ duyên khó gặp, ngàn vạn lần không thể bỏ phí. Nay chúng ta đến đây tham
thiền cùng với nhau, đó là do những căn lành từ các kiếp trước tạo nên, mới dẫn
đến cơ duyên của ngày hôm nay. Người dụng công tu Ðạo, gặp được cơ may này phải
nắm vững thời cơ khai ngộ, không để lãng phí thời gian, dù một giây một phút.
Chẳng nên do nhất thời vui thú mà tìm cách an thân trong sự lười biếng, bởi như
vậy sẽ uổng mất cơ hội được khai ngộ và còn có thể bị đọa vào ba đường ác. Lúc
ấy có hối cũng không kịp. Vì lẽ đó tôi có hai câu như sau:
Mạc đãi khổ thời phương học ÐạoTam đồ đô thị lãn nọa nhân
Hai câu này có nghĩa là
đừng chờ tới khi gặp cảnh khổ mới tìm đường học Ðạo. Chúng sanh trong ba ác đạo
(địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) đều là kẻ lười biếng.
Như vậy, thiền giả phải
dụng công từng giờ từng khắc, lúc nào cũng tinh tấn. Thoại đầu phải luôn luôn ở
trong tâm, đi cũng tham, ngồi cũng tham, tham tới tham lui, tham cho thật thấu
đáo thì bổn lai diện mục sẽ hiển bày. Tại sao? Bởi thoại đầu có thể phá vọng
tưởng. Phải tham cho tới trạng thái ở trên thì không biết có trời, dưới không
biết có đất, giữa không biết có người, như vậy thì còn lúc nào có vọng tưởng
nữa? Phải nên hiểu rằng vọng tưởng chính là vọng ngữ, tức là chúng ta
không giữ năm giới căn bản, vì tranh đua nên ta nói dối, vì tham nên nói dối, vì
cầu nên nói dối, vì ích kỷ nên nói dối, vì tự lợi nên nói dối. Nói dối để lừa
bịp người, làm việc lỗi lầm mà không tự nhận, còn tìm lời biện bác cho mình, nếu
có tư tưởng và hành vi như vậy, làm sao có thể tu Ðạo được?
Tại sao chúng ta dụng
công mà không thấy tiến bộ? Chính vì chúng ta đã dối trá quá nhiều. Một câu dối
trá phát sanh ra cả trăm thứ vọng tưởng. Khi ấy, ngồi nhưng ngồi không yên chỗ,
đứng mà đứng không ổn, đó là bệnh trạo cử, không biết cư xử ra sao, tiến hay
thoái? Cái nào là đúng? Cái nào là sai? Không sao tìm thấy an ổn, cái đó hoàn
toàn nghịch với Pháp.
Kẻ tu hành chân chánh, ở
đâu cũng theo đúng quy củ, lúc nào cũng tinh tấn, tuyệt đối không nói lời dối
trá, không phải bạ thứ gì theo thứ đó. Mong rằng chúng ta không bắt chước những
người dối trá, cũng không theo gót những ai không tuân thủ phép tắc, bởi theo họ
không những chẳng có lợi ích gì mà còn có hại nữa. Ðiều này chúng ta nên cẩn
thận, nên chú ý, kẻo có thể bị truyền nhiễm rồi mang họa lớn.
Người tu hành chân chánh
không sợ khổ, không ngại khó, từng giờ từng phút nghiêm cẩn tu hành, không để
cho ngoại cảnh lay chuyển.
Hãy Tham! Tham! Tham!
Tham cho đến nước cạn đá hiện, thấy rõ bản mặt gốc gác.
Có câu nói rằng: "Chịu
khổ thì hết khổ, hưởng phước thì tiêu phước". Chúng ta tu Ðạo phải tu khổ hạnh
là vì lẽ gì? Mỗi ngày chúng ta chỉ ăn một bữa vì chúng ta muốn hết khổ. Khổ mà
hết thì sẽ có vui.
Nói về phước thì có loại
nên hưởng và có loại không nên hưởng. Phước nên hưởng là phước do tay ta tạo tác
ra, như có nhà đẹp, mặc quần áo đẹp, ăn thứ ngon, đi xe hơi tốt. Tuy nhiên,
chúng ta cũng nên nhớ rằng sau khi hưởng thọ hết những thứ đó thì phước cũng
tiêu luôn, và trong trương mục của ngân hàng phước báo thì ngạch số tồn khoản
cũng không còn.
Loại phước không nên
hưởng là loại không do chính ta tạo dựng. Chúng đến với ta do mánh lới, như tiền
của trộm cắp của người khác chẳng hạn. Chúng ta tiêu xài thứ đó một cách trái
phép, tất sẽ bị pháp luật trừng trị. Vậy là ta đã thiếu nợ vì rút tiền quá lạm
tại trương mục của ngân hàng phước báo.
Thọ hưởng phước thì khi
hưởng hết, phước sẽ không còn, huống chi lại cố tình hưởng những loại phước
không nên hưởng. Như vậy, không những tiêu mất phước mà lại còn bị vỡ nợ. Vì lẽ
đó mà phước chẳng thể hưởng hết, hưởng hết thì hết phước; khổ có thể chịu hết,
chịu hết thì hết khổ. Làm người phải ghi nhớ điều này. Gặp hoàn cảnh gian nan
khốn khổ, ta vui lòng tiếp nhận nghịch cảnh. Vậy là không có sự oán hận, ta
không mang tâm bất mãn.
Ðối với kẻ đã từng
nghiên cứu Phật Pháp, tư tưởng và hành động của họ khác với người thế tục. Một
đàng thì thuận theo giòng sanh tử và tạo nghiệp, còn người tu hành thì đi ngược
giòng sanh tử và làm tiêu nghiệp. Trong mọi cảnh ngộ, những người này vẫn giữ
tâm an nhiên, nên không cảm thấy khổ. Có câu nói: "Có nếm được cái khổ cùng cực,
mới thành bậc thượng nhân". Thật là một câu chí lý.
Nay tôi kể một công án
để quý vị tham khảo. Vị vua cuối cùng đời nhà Minh là vua Sùng Trinh. Là một vị
quân vương, ông có đủ trí huệ, nhưng phước báo dành cho ngôi vị này lại không
có. Bởi cớ gì? Bởi lý do gặp khổ nạn mà không lãnh thọ cho đến khi hết khổ.
Nguyên kiếp trước ông là một Sa-di, nhưng lại chết trước khi thọ giới Cụ túc,
thành thử thân phận ông vẫn là tiểu Sa-di. Trong thời gian làm Sa-di, ông phải
nhận hết những công việc nặng nhọc như gánh nước, bổ củi. Ông ráng chịu đựng,
nén sự oán giận và ngày ngày khổ công trong công tác hộ trì Ðạo tràng. Một hôm,
ông leo lên nóc nhà để sửa mái, nhưng chẳng may trật chân rớt xuống đất chết.
Các bạn tu vội báo cho Phương trượng hay. Hòa Thượng viện chủ vốn biết rõ nghiệp
quả của vị tiểu Sa-di này, muốn tìm cách giúp cho đệ tử lãnh thọ cho hết khổ
nạn, nên đối trước các chúng tuyên bố rằng: "Tiểu Sa-di này làm việc thiếu cẩn
thận, sẩy chân ngã chết, làm thiệt hại cho Ðạo tràng. Y đã phạm vào tội xâm tổn
thường trú, đáng bị trừng phạt. Các ngươi hãy buộc thi thể của nó vào đoàn ngựa,
bắt ngựa kéo đi cho đến khi tan xác. Khỏi cần phải dùng quan tài mai táng nữa".
Các bạn tu nghe Phương trượng nói xong, thấy không đang tâm, nghĩ tới tình bạn
tu mà động lòng trắc ẩn. Họ không nghe lệnh của Phương trượng rồi bàn bạc với
nhau: "Chúng ta là sư huynh sư đệ, cùng tu chung một Ðạo tràng, lý nào để cho y
bị ngựa kéo thây như vậy, chúng ta phải chôn cất mới phải". Bàn xong, tất cả
chung tiền mua quan tài, rồi đem chôn xác trong núi.
Bởi đã khổ công làm việc
chùa, tiểu Sa-di đã từng tích lũy công đức, nên kiếp sau được làm vua, tức vua
Sùng Trinh. Có điều, ông chỉ tại vị trong thời gian 16 năm, lại gặp lúc thiên hạ
đại loạn, trong nước thì Lý Tự Thành làm phản, bên ngoài thì nhà Thanh mang quân
xâm lấn. Trong bao năm, ông chưa từng được hưởng một ngày an ổn, liên miên bị
bức bách ưu phiền. Chính vì lòng tốt của các vị sư huynh sư đệ của ông đã làm
hại ông, không để cho ông thọ lãnh cho hết khổ nạn. Nếu như các bạn đó sớm nghe
lời Phương trượng, dùng ngựa kéo thây thì nạn khổ của ông đã hết và ngày sau đâu
còn xẩy ra cảnh Sùng Trinh tự ải ở Môi Sơn, vì nước mà tử vong.
Kinh Hoa Nghiêm có
câu:
Ai muốn hiểu biết tận cùngHết thảy ba đời chư Phật.Phải quán tánh của Pháp giớiHết thảy là do tâm tạo.(Nhược nhân dục liễu tri,Tam thế nhất thiết Phật,Ưng quán Pháp giới tánh,Nhất thiết duy tâm tạo).
Quý vị hành động với tâm
Phật thì quý vị là Phật; hành động với tâm Bồ-tát, quý vị là Bồ-tát; hành động
với tâm Duyên giác, quý vị là Duyên giác; hành động với tâm Thanh Văn, quý vị là
Thanh Văn; hành động với tâm Trời quý vị là Trời; hành động với tâm người, quý
vị là người; hành động với tâm A-tu-la, quý vị là A-tu-la; hành động với tâm súc
sanh, quý vị là súc sanh; hành động với tâm ngạ quỷ, quý vị là ngạ quỷ; hành
động với tâm địa ngục, quý vị là quỷ địa ngục.
Bởi vậy có câu: "Mười
pháp giới chẳng lìa khỏi một niệm hiện tiền của tâm". Như vậy mới biết rằng hết
thảy mọi thứ đều do tâm tạo. Có bài kệ nói về tâm đầy ý nghĩa như
sau:
Tam điểm như tinh bốLoan câu tự nguyệt nhaPhi mao tòng tư khởiTác Phật dã do tha.
Tạm dịch:
Ba chấm như chòm saoMóc cong như hình trăng mớiMang lông từ đây raThành Phật cũng do đấy.
Cứ suy nghĩ kỹ, bài kệ
thật chí lý.
Người ta ở đời phải giữ
lấy Chánh tâm, đừng có mang tà tâm. Thế nào gọi là Chánh tâm? Ðó là tâm Bồ-đề,
tâm bình đẳng, tâm từ bi, tâm thương xót, tâm bố thí, tâm hổ thẹn. Thế nào là tà
tâm? Ðó là những tâm ích kỷ, tự lợi, đố kỵ, oán hận, kiêu ngạo, vọng tưởng.
Chúng ta tu hành phải nhằm mục tiêu trừ khử vọng tâm và giữ lấy Chân tâm, đó
cũng là nghĩa trừ tà tâm sanh Chánh tâm.
Nếu mỗi hành động của
chúng ta có chánh niệm, tức đó là chánh tri chánh kiến; nếu có tà niệm thì thành
tà tri tà kiến. Người có tà niệm thấy điều trái coi là phải, thấy điều phải coi
là trái, lấy trắng làm đen, lấy đen làm trắng, có nghĩa là điên đảo thị phi, đen
trắng không phân biệt. Bất cứ hành động nào y cũng tự cho là đúng, nhưng kết quả
lại gây nên tội, xuống địa ngục vẫn không hiểu tại sao. Bởi sự thể đó mà chư
Phật đã khổ tâm khuyên bảo, đã không ngại khó nhọc đinh ninh dặn dò: "Chớ đi lầm
đường! Chớ đi vào chỗ bế tắc!" Ðây cũng là lời nhắc những ai tu như chúng ta là
không được tạo nghiệp ác tại chốn Ðạo tràng. Có câu nói như sau:
Chớ vì điều lành nhỏ mà không làmChớ vì điều ác nhỏ mà tạo tác.
Chúng ta phải từng giờ
từng khắc cảnh giác, tự xét mình, nơm nớp e dè như đứng bên bờ vực sâu, như dẫm
chân trên băng mỏng, để từ từ cởi bỏ những thói hư, tự cải thiện những hạnh xấu,
những tập khí ranh ma, những lối tinh khôn quỷ quái. Phải tự xét mình mọi thứ
cho minh bạch, chớ không phải sống qua ngày một cách hồ đồ, như kẻ mù dẫn người
mù, dối trá lẫn nhau, khiến cho thế giới càng ngày càng lâm cảnh nguy cơ, dẫn
tới ngày mạt thế để tất cả đi đến chỗ diệt vong.
Những ai có chánh niệm
thì có thể dẫn dắt nhân loại đi trên con đường chánh đại quang minh. Ai ai cũng
một lòng, cùng giúp đỡ nhau, quý vị giúp tôi, tôi giúp quý vị, tất cả đều có
tinh thần tương trợ. Có câu: "Giúp người là nguồn khoái lạc" hoặc có câu: "làm
điều lành thì vui sướng nhất". Quý vị phát tâm làm điều lành thì sự vui sướng
không bút nào tả hết, chỉ những ai đã làm việc lành mới biết được hết ý vị của
nó. Quý vị thử nếm mùi làm việc thiện coi nó như thế nào? Cái lạc thú đó thật là
kỳ diệu. Chúng ta phải tránh bằng mọi giá những con đường quanh co, không những
khiến ta sẩy chân, mà còn đưa những người khác lâm vào nơi bế tắc. Bởi những lẽ
đó, tâm của ta phải chánh đại quang minh mới có thể chiếu soi và phá hết hắc
ám.
Bây giờ là thời gian của
thiền thất (ngày 15 tháng 12 năm 1977), Quý vị hãy đề khởi thoại đầu lên để
tham, để dụng công trong từng giờ từng khắc. Người tu hành phải tự mình tu,
không ỷ lại vào người khác, càng không thể ỷ lại vào thầy của mình. Tại thiền
thất chúng ta tu chớ không phải thầy của ta tu, điểm này phải nhận cho rõ. Có
người nghĩ rằng: "Thời gian Thầy ở Vạn Phật Thánh Thành thì ta dụng công tu;
Thầy đi vắng thì ta khỏi cần tu tinh tấn nữa". Nghĩ như vậy là không thể được.
Bất luận thầy có mặt ở Vạn Phật Thánh Thành hay không, chúng ta vẫn cố gắng tu
hành tinh tấn, trước sau phải tu rốr áo, thì mới có cơ thành tựu. nếu chẳng phải
vậy thì quý vị chỉ là tu bên ngoài, tự dối mình và dối người, vĩnh viễn không
thể nào giải thoát được.
Tham thoại đầu là tham
câu "niệm Phật là ai?", tự hỏi ai đương niệm Phật? Nếu nói: "Tôi đương niệm
Phật" vậy khi tôi chết đi thì cái "tôi" này chạy đi đàng nào vậy? Rõ ràng không
phải cái "tôi". Tham cứu như vậy thì không kiếm ra cái "tôi". Nếu cái "tôi"
không có thì đương lúc còn sống ta khỏi cần tu hành nữa chăng? Nghĩ như vậy cũng
không đúng. Vậy làm sao mới đúng? Tức là phải tham cứu cái mặt mũi gốc của ta
(bổn lai diện mục), cái đó như thế nào trước khi cha mẹ sanh ra ta? Tham cho
thấu đáo, tức sẽ khai ngộ.
Niệm Phật là ai đó? Phải
truy cứu từng giờ từng khắc, từng giây từng phút không lơ là. Thật ra đây là
cách dụng công lấy độc trị độc. Niệm Phật là ai? Tuy nó cũng là một niệm, nhưng
lấy một niệm để khống chế hết thảy các niệm khác, lấy một vọng tưởng để đình chỉ
hết thảy mọi vọng tưởng. Khi đình chỉ tới độ tột cùng sẽ tới lúc nước rút đá
hiện, chân tướng hiển bày và được khai ngộ.
Thế nào là khai ngộ? Là
nhận rõ một cách chân thực chính ta như thế nào, chứng được lý không,
hiểu rõ hết thảy đều là hư vọng và đó mới là sự hiểu biết chân thực. Lúc đó quý
vị biết được "Bổn lai không một vật, chỗ nào vướng bụi bậm?" là loại cảnh giới
nào. Ðó cũng là cảnh giới của minh tâm kiến tánh. Có câu "minh tâm vô nan sự,
kiến tánh bất tri sầu", ngụ ý rằng khi đã đạt tới chỗ minh tâm, thì gặp cảnh ngộ
nào cũng không ưu sầu. Còn có câu như sau:
Tự cổ thần tiên vô biệt phápQuảng sanh hoan hỷ bất sanh sầu.
Câu trên có nghĩa là
thần tiên thuở trước chẳng có gì khác lạ, bởi sanh tâm hoan hỷ rộng lớn nên
không có ưu sầu. Ðó là đặc điểm của những vị tu Ðạo.
Ai tu Ðạo rồi thì gặp
nghịch cảnh hay thuận cảnh trong tâm cũng không động. Nếu định lực tới trình độ
đó, thì sẽ không còn bị cảnh lay chuyển, mà ngược lại có thể chuyển cảnh. Ðó mới
là công phu chân chánh của người tu Ðạo. Lại có câu:
Thái sơn băng tiền nhi bất kinhMỹ sắc đương tiền nhi bất động.
Tạm dịch:
Thái Sơn sụp đổ mà không sợSắc đẹp trước mắt tâm không động.
Người con trai đứng
trước người đẹp như Tây Thi chẳng hạn, nếu theo phép quán "sọ đầu lâu", tự nhiên
sẽ hết động tâm.Người con gái khi gặp một chàng trai anh tuấn như Phan An năm
xưa, nếu theo phép quán "xương trắng", cũng chẳng động tâm. Nếu không có pháp đó
thì mỗi khi gặp gái đẹp, trai anh tuấn, cái tâm liền chạy lăng xăng, như vượn
leo, như ngựa chạy, không biết như thế nào mới đúng. Chỉ vì không đủ định lực,
thành thử uổng phí mất Ðạo nghiệp, thật đáng tiếc biết bao!
Ngày hôm nay tôi nhận
được thư của hai vị đương trên đường hành hương "tam bộ nhất bái" và tôi hiểu
những điều chẳng thể nghĩ bàn mà họ vừa trải qua, khi được các vị long thần hộ
pháp che chở. "Cảm ứng Ðạo giao" là như vậy. Hai vị đó đã thành tâm lễ lạy, thực
tâm niệm tụng, làm cảm động tới các vi thiên long bát bộ nên họ luôn luôn có mặt
ở bên cạnh để hộ trì. Bởi vậy đi tới chỗ nào hai vị này cũng gặp may mắn, gặp dữ
hóa thành lành. Chúng ta nên lấy các vị này làm gương sáng, soi lại chính mình,
coi mình có thanh tịnh như vậy hay không? Có sáng suốt, có trí huệ, có bặt các
vọng tưởng hay không?
Này quý vị! Quý vị nghe
Kinh nghe pháp, cần phải ngộ tự tánh, tự ngộ và tự độ cho mình. Không thể ý lại
vào sư phụ! Phải trông cậy nơi chính mình. Người ta nói "dẫn tới cửa là vị thầy,
tu là đương sự". Phải tin nơi trí huệ của mình, không thể tin vào ngu si của
mình, đó là một điểm vô cùng trọng yếu. Chúng ta dự thiền thất với mục đích tự
tánh tự độ. Xưa Lục Tổ đã từng nói: "Khi mê thầy độ, khi ngộ tự độ".
Nay chúng ta tham thiền,
phải lợi dụng từng giây phút, chớ để uổng phí thời gian. Bởi vậy trong thời gian
tham thiền chúng ta không lạy Phật, không quá đường hay cúng ngọ, là vì cớ gì?
Như vậy là muốn giúp quý vị chuyên chú vào sự dụng công. Thêm một phút tham, thì
cơ hội khai ngộ gần hơn một phút, đâu có dư thời gian nào để làm việc khác, để
tán chuyện, để tụ hội nhau? Nếu như túm năm tụm ba, nói chuyện thị phi, toàn
những điều vô nghĩa, thì quả là phí hoài cơ hội khai ngộ. Dầu có tham trong tám
vạn đại kiếp cũng không có hy vọng gì. Trong thiền thất, phải thực thà mà tham!
Hãy tham "niệm Phật là ai?" tham "bổn lai diện mục truớc khi cha mẹ sanh ta là
gì?" Ðó là chìa khóa khai mở trí huệ.
Hôm nay, năm mới, tôi
xin chúc quý vị "Năm mới hạnh phúc". Tục lệ của thế gian là như vậy. Chúng ta là
những kẻ xuất thế, lẽ ra không theo lề thói đó, nhưng chúng ta hãy còn là người
trong thế gian, nếu như quá xa cách thế gian thì chúng ta sẽ xa lìa mọi người.
Bởi vậy, tôi vẫn y theo lễ tục, chúc mọi người một câu "năm mới hạnh phúc". Tôi
lại nói thêm bài kệ này:
Kim phùng nhất cửu bát nhị niênThập phương tụ hội lai tham thiềnHồi quang phản chiếu Quán Tự TạiVạn Phật Thành trung tuyển thánh hiền.
Tạm dịch:
Năm nay một chín tám mươi haiTham thiền hội tụ Vạn Phật nàyHồi quang phản chiếu Quán tự TạiThánh hiền tuyển lựa chính nơi đây.
Năm mới chúc hạnh phúc!
Ðối với chúng ta những người tham thiền, cần đạt tới "thiền duyệt vi thực", tức
lấy sự tham thiền làm thực phẩm. Ngưòi tham thiền chân chánh dầu đã ăn hay chưa
ăn cũng không nhớ; mặc đồ vào hay chưa mặc, ngủ rồi hay chưa ngủ, cũng không
nhớ. Tham tới rốt ráo, thì trên không biết có trời, dưới không biết có đất,
chặng giữa không thấy có người, hòa với hư không làm một, sống trong một cảnh
giới vô nhân, vô ngã, vô chúng sanh, vô thọ giả. Trong cảnh huống đó thì dầu có
đau chân cũng đâu ngại gì, đau lưng, cũng không sợ vì sự nhẫn nại dụng công đã
giúp cho thiền giả vượt qua hết thảy mọi thứ. Bởi không thấy có người, có ta, có
chúng sanh, có thọ giả, thì ai là người đương đau? Hơn nữa, khi đã qua cái "cửa
đau" thì cái đau cũng qua luôn, còn nếu chưa qua thì đau vẫn còn. Qua được cửa
đau thì không những thiền giả hết đau mà còn được tự tại, vui sướng vô
cùng.
Không có gì kỳ diệu bằng
pháp môn tham thiền, bởi tham thiền mới đưa tới trạng thái thiền duyệt vi thực
và pháp hỷ sung mãn. Cũng vì vậy mà xưa nay các thiền gia có thể ngồi luôn nhiều
ngày mà không đứng dậy. Chân họ có bị đau không? Ðương nhiên là có đau! Nhưng họ
chịu đau được, họ có thể chịu đựng những gì mà người khác không chịu nổi. họ có
sức tinh tấn dũng mãnh, chỉ biết dấn bước tới trước, chớ không biết lùi, do đó
họ mới thành công.
Tham thiền phải có đủ
nhẫn nại vì nhẫn nại là vốn của sự khai ngộ. Tỷ như người làm ăn buôn bán, phải
có vốn liếng thì việc kinh doanh mới phát triển và được lời nhiều. Chúng ta tham
thiền phải khắc phục cái cửa đau; vượt qua được cửa đau rồi thì con đường sáng
sủa rộng mở, dẫn thẳng tới cảnh giới minh tâm kiến tánh. Khi chưa qua cửa quan
này thì vẫn còn trong tình trạng "sơn cùng thủy tận, đường tắc nghẽn", vượt qua
được thì là cảnh giới "dưới liễu hoa tươi, lại một thôn". Có các câu nói như
sau:
Không xả được tử, không đổi được sanhKhông xả được giả, không thành được chânKhông xả được khổ, không đạt được lạc.
Chúng ta tham thiền phải
có một tinh thần như vậy mới có hy vọng thành công. Phải phá cánh cửa gian nan
khốn khổ, mới thấy được cảnh giới (thực tại) khác. Bởi lý do đó mà chúng ta phải
chuyên nhất trong việc tham thiền. Quý vị hãy chú ý! Chúng ta đến chỗ này là để
tham thiền, không phải để tiêu thời gian, phải mang hết chí nguyện chân chánh ra
dụng công, với tất cả sự nhẫn nại chân chánh để ngồi thiền. Phải nhớ một điều
rằng trên thế gian không có thứ gì gặt hái được mà chẳng do công lao mang lại.
Không bỏ công làm nhưng lại muốn hưởng, đâu có chuyện dễ dàng như vậy? Ðó là mơ
tưởng hão huyền, chẳng hề có thật. Chỉ có sức lực của mình bỏ ra thì mới mong
ngày thành tựu. Nay, qua năm mới, quý vị có sự mong mỏi mới, mong mỏi năm nay
khai ngộ. Hy vọng tất cả chúng ta hướng tới mục tiêu này mà gắng sức tiến tới,
nếu chưa khai ngộ thì chưa ngừng bước.
Khai thị tại Vạn Phật
Ðiện, Vạn Phật Thánh Thành
Thiền thất từ ngày 1 đến
ngày 8, tháng 1 năm 1982
Phàm làm bất cứ một công
trình gì, cũng phải trải qua một giai đoạn tôi luyện mới tới được thành công.
Pháp môn tham thiền còn khó hơn nữa. Thiền giả phải nếm đủ loại tân khổ và tôi
luyện, mới tiến bước được. Hễ tham gia thiền thất điều quan trọng nhất là phải
có tâm nhẫn nại; nhẫn nại làm những công việc mình không ưa thích; nhẫn nại chịu
đựng những gì không chịu đựng nổi. Phải có tinh thần như vậy mới đủ tư cách tham
thiền, bằng không thì miễn bàn. Thân ở tại Thiền đường mà tâm thì ở nơi khác,
dầu tham đến đâu cũng là uổng công, không thành tựu được gì hết.
Tham thiền là tôi luyện
thân này thành chất kim cương, chẳng khi nào bị hoại diệt. Nếu đã nguyện ý tôi
luyện thân này thì gặp khổ phải ráng hết sức chịu đựng, bởi có câu: "Chịu khổ
thì hết khổ, hưởng phước thì tiêu phước".
Ðối với những gì ta hoan
hỷ làm thì ta lại càng phải gắng sức hơn nữa, kẻo phụ lại tấm lòng lúc ban sơ
đưa ta tới tham gia thiền thất. Về điểm này xin quý vị đặc biệt chú
ý!
Trường Ðại Học Pháp Giới
Phật Giáo thuộc Tổng Hội Pháp Giới Phật Giáo, lần đó tổ chức một cuộc du hành đi
Ðông Nam Á Châu để hoằng dương Phật Pháp. Trước khi đi, tôi đã biết trước chúng
ta sẽ gặp một số trở ngại, bởi bất luận đi chỗ nào hoằng Pháp tôi cũng đều gặp
những cản trở và sự đố kỵ. Tại sao vậy? Bởi tôi quá trực tính, tôi không chịu a
dua theo mọi người, bởi đó mà sanh ra đố kỵ. Tuy nhiên, sự tin tưởng của tôi là
tà không thể thắng được chánh, loài ma quỷ không có cách gì làm hại
được.
Tôi tin tưởng rằng Phật
và Bồ-tát luôn luôn hộ trì pháp của tôi. Nơi tôi đến, tuy gặp nhiều trở ngại,
nhưng chúng chẳng có tác dụng gì, chẳng phát sanh những chuyện đáng tiếc, gặp
chuyện dữ đều hóa lành, nơi nào cũng bình an vô sự. Chính là do Phật và Bồ-tát
đã gia hộ.
Tôi đến bất cứ địa
phương nào, thường ngày vẫn gặp những người đau bệnh đến xin được cứu chữa. Mang
bệnh là do nghiệp nặng từ kiếp quá khứ, nếu như không thế, đương sự tất không bị
quái tật. Những người đến kiếm tôi, đều mang những chứng bệnh lạ, Tây y và Ðông
y đều bó tay, không cách gì chữa hết. Ða số những người mang quái tật trong
mình, là do trong kiếp quá khứ ham lợi dụng người mà không muốn bị thua thiệt;
hoặc giả họ là những người bỏn xẻn, không muốn mất cho ai một xu, không biết
giúp đỡ người nghèo, chỉ nghĩ về mình, không biết tới ai khác, luôn luôn ích kỷ
tự lợi, thấy lợi quên điều nghĩa, càng ngày càng ngập thêm nghiệp chướng, nên
mới dẫn tới bệnh lạ trong kiếp này.
Mang bệnh lạ còn phải kể
thêm những ai hủy báng Tam Bảo trong kiếp trước, thậm chí hủy báng Kinh điển Ðại
thừa, một tội có thể khiến cho người ta bị đọa địa ngục để chịu khổ và khi ra
khỏi địa ngục thì chuyển làm kiếp súc sanh, chim muông hay thú vật. Tới khi
chúng sanh đó được lên làm người thì sáu căn không toàn vẹn, hoặc bị khuyết tật,
hoặc mắt bị mù, tai bị điếc, câm hay ngọng, chân khập khễnh, tóm lại làm thân
người không đầy đủ. Nguyên do bởi kiếp trước họ tạo nghiệp ác nên kiếp này chịu
quả báo.
Gặp quả báo như vậy, lẽ
ra họ phải dốc lòng sám hối, và làm thật nhiều công đức mới đúng. Tiếc rằng,
không những họ không tỉnh ngộ, mà còn coi tiền tài quý như thân mạng, lại còn
muốn lợi dụng kẻ xuất gia này. Họ cầu tôi chữa bệnh, chẳng muốn mất tiền nhưng
muốn hết bệnh. Khi khỏi được bệnh, họ có vẻ hào hiệp đưa ra một phong bì đỏ để
cúng dường. Tuy nhiên trong bao màu đỏ đó chỉ có một đồng, hai đồng cho đến năm
đồng là cùng (tiền Tân-gia-ba hay Mã-lai-á). Nghiệp chướng của họ nặng như vậy
mà còn tính chuyện lợi dụng, thật đáng thương!
Tại sao tôi lại kể những
chuyện này với quý vị? Chính là muốn quý vị đề cao cảnh giác, cẩn thận giữ gìn
chớ có tạo ác nghiệp. Trong Phật giáo không thể phỉ báng Tam Bảo, không thể phỉ
báng Kinh Ðại thừa, không thể hồ nghi mà không chịu tu hành, không thể nói dối
để gạt mọi người. Nếu như tạo ra những loại ác nghiệp như vậy, thì tương lai
nhất định bị đọa địa ngục. Tới lúc đó thì thầy có thương cũng đành chịu, không
có cách gì giúp đỡ. Tôi có lời nói trước như vậy để sau này đừng có trách tôi
không chịu cứu giúp quý vị.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.( TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.9/12/2012 ).THICH NU CHAN TANH.MHDT.
No comments:
Post a Comment