Wednesday, 1 May 2013

Danh Ni Truyn.



(Tiếp theo)

Các ni trưởng thời cổ Ấn Độ

Trong thuở ban sơ khi Phật giáo mới thành hình, người ta tưởng đạo Phật cũng chỉ là một hệ phái trong vô số các hệphái khác bắt nguồn từ Bà La Môn giáo. Nói đúng ra giáo lý đạo Phật cũng đặt cơsở trên truyền thống của Bà La Môn giáo, mặc dù Đức Phật vẫn thường chỉ trích cách sống của các giáo sĩ Bà La Môn cũng như những lời giảng dạy của họ. Tuy nhiên khi giáo lý của Đức Phật bắt đầuđược lan truyền, người ta mới thấy được rõ ràng năng lực chuyển hoá của Đạo Phật trên cuộc đời con người như thế nào.
Đạo Phật là ngọn sóng thuỷ triều dâng cao đem lại một cuộc cách mạng tôn giáo và văn hóa trong xã hội cổ đại Ấn Độ. Cách nhìn bất bình đẳng về giai cấp, giống nòi, và gia tộc của con người đã được đạo Phật đem ra đặt vấn đề lại. Đao Phật dạy sự dung hòa trong một thế giới bất dung hòa, truyền bá lòng từ bi và bình đẳng đến tất cả mọi người trong một thếgiới đầy những xung đột và bất công. Không ép xác khổ hạnh, nhưng cũng không buông lung phóng túng, con đường Trung đạo do Đức Phật đề ra là con đường chánhđạo của sự thấy biết chân thật. Trên hết, Tất Đạt Đa đã dạy cho chúng ta phương pháp tự giải thoát khỏi những phiền não tràn ngập trên thế gian này, phát triển một năng lực tự cứu độ trong một thờiđại mà niềm tin tôn giáo chủ yếu đặt căn bản trong sự phó thác nơi định mệnh. Triết lý nhân sinh của đạo Phật đã gây ảnh hưởng lớn, đem lại những khai phóng và chuyển biến trên phương diện xã hội và chính trị.
Các vị danh ni đầu tiên bắt đầu có từ thời Đức Phật còn tại thế. Có rất ít tài liệu về cuộcđời của họ, những gì thu thập được chính là từ những bài viết của họ, phần lớn là những bài thơ, bài kệ trong một tuyển tập gọi là Therigatha, hay là “Những bài thơ kệ của các ni trưởng”, trong đó ghi lại những bài pháp, những câu nói, những câu chuyện kể từ thời Đức Phật.
Qua những tài liệu ít oi để lại, ta có một cái nhìn thoáng qua về tính năng động và sựphát triển của tập thể ni đoàn trong thời Phật tại thế. Sau khi Đức Phật nhập diệt, cả hai tập thể tăng và ni đoàn bắt đầu hợp lại lập ra những nơi cư trú thường trực trong và ngoài các làng mạc, thành phố. Dần dần, vị trí của các vị ni trở nên lu mờ đi trong ký lục của Phật giáo Ấn độ, và rồi hoàn toàn biến mất. Có phải ni đoàn đã bị xóa sổ hoàn toàn trên đấtẤn độ, hay đó chỉ là những thiếu sót tài liệu lịch sử, không ai có thể biết được.
Chương này chỉ kể lại truyện của một số danh ni điển hình trong thời Đức Phật.

Maha Pajapati
Cao Hạ Đệ Nhất

Ấnđộ có những con sông dài bắt nguồn từ những dẫy núi tuyết trùng trùng điệp điệpở thật xa. Từ thượng nguồn, giòng sôngđi qua những con thác đổ, lặng lờ trôi theo những con suối nhỏ lạnh giá, rồi cuồn cuộn chảy qua những khe núi và thung lũng, giòng nước chảy xiết càng ngày càng trở nên thẫm mầu với những mảnh vụn cát đá cuốn theo, cho đến khi nó đổ vào nhữngđồng bằng ở dưới. Ở nơi đồng bằng mênh mông con sông cũng bắt đầu mởrộng, giòng nước lạnh giá trở nên ấm áp dần, bồi lên mặt đất những phù sa cátđá mầu mỡ. Giòng sông luân lưu đổi mới không ngừng giữa những tầu thuyền đi lại tấp nập trên mặt nước.


Mẹ của Phật, Hoàng hậu Maya, đã mất sớm ngay khi vừa sanh hạ ra ngài. Như những giòng trường giang, bà cùng người em gái là Gotami đã từ quê hương núi tuyết trên cao đi xuốngđồng bằng phía dưới để về sống với vị quốc vương của thành Ca Tỳ La Vệ, một thành phố xinh tươi với những tòa nhà quét vôi mầu trắng giữa những cây lá xanh mầu. Họ được quý trọng và nuông chiều hết mực; hàng ngày họ mặc áo gấm lụa lượt là, đeo những đồ trang sức quý giá, đi dạo trong vườn ngự uyển ngắm những con công xòe cánh rực rỡ bên bờ ao sen.


Maya lâm bồn trong một ngày đặc biệt đầy những hiện tượng lạ nhiệm mầu và rồi qua đời mấy ngày sau đó. Gotami ôm lấy đứa bé giữa tiếng reo hò vui mừng của mọi người, rồi khóc cho người chị quá cố trong tang lễcủa hoàng hậu. Sau đó Gotami đã hạ sanh con trai riêng của bà, nhưng giao con cho người vú nuôi, còn bà tự tay nuôi nấng săn sóc cho người cháu ruột, con của Maya. Bà và nhà vua hồi hộp chờ đợi cho qua những ngày tháng bất trắc đầu tiên của đứa trẻ mới chào đời – nhưng cả hai bé đều mạnh khỏe, không có vấn đề. Đến ngày lễ đặt tên, bà ôm trên tay đứa cháu ruột, con trai của Maya và nghe nhà vua thì thầm bên tai mấy lần “Siddartha”(Tất Đạt Đa), có nghĩa là “toàn thịnh”, và con trai của Gotami là được gọi là“Nanda”.


Với tình thương hết mực của một người mẹ, Gotami đã tự tay chăm sóc từng miếng ăn thức uống, cho đến những áo quần, trang sức cho hai đứa bé từ những bước đầu chập chững. Hai đứa trẻ lớn lên cùng với nhau. Khi cả haiđược ba tuổi, Gotami hạ sanh một con gái đặt tên là Sundari-nanda. Sundari lúc nào cũng quấn quýt bên mẹ, trong khi hai đứa bé trai càng ngày càng xa dần, vì phải bận rộn trong việc học hành, cả về văn lẫn võ, để trở thành người lãnh đạo tài ba sau này. Lớn lên một chút, họ bắt đầu săn sóc đến bề ngoài, vẽ những vết xăm nhỏ màu đen gần mắt, tô môi đỏ, bôi dầu thơm gỗ đàn hương lên người. Đến tuổi thanh niên, họ để râu, vấn khăn quanh đầu, lịch lãm trong những bộ trang phục sang trọng thêu chỉ vàng. Họ trởthành những vị hoàng tử trẻ có cung điện riêng biệt với nhiều cung tần mỹ nữ.Khi Tất Đạt Đa được hai mươi chín tuổi, chàng kết hôn với Yasodhara, một nàng công chúa nổi tiếng đẹp tuyệt trần.


Suốt trong những năm tháng ấy, Gotami đã biết đứa cháu trai của bà có điều gì không an ổn trong tâm. Tính tình ít nói, trầm mặc, chàng như lúc nào cũng ở một thế giới sâu kín nào đó, ít khi nào tận hưởng hoàn toàn những thú vui trước mắt. Và rồi bất ngờ một đêm, Tất Đạt Đa đã lặng lẽ biến mất khỏi cung điện, gởi trả về theo người Xa Nặc mớ tóc dài mới cắt và những quần áo sang trọng. Tất Đạt Đa ra đi dứt bỏhết những luyến ái ràng buộc, ngay khi Yasodhara vừa hạ sanh đứa con trai đặt tên là Rahula La Hầu La. Gotami đã khóc hết nước mắt, tưởng chừng nhưkhông bao giờ gặp lại đứa cháu ruột, đứa con nuôi thân yêu.


Bảy năm sau, Tất Đạt Đa trở về thành Ca Tỳ La Vệ, một con người mới hoàn toàn. Tất ĐạtĐa của ngày xưa không còn nữa, bây giờ đã trở thành một bậc Giác Ngộ, được gọi là Đức Phật, Đức Thế Tôn. Vua Tịnh Phạn và Gotami cho làm lễ tiếp đón Ngài trọng thể, tuy nhiên, một số vị trưởng thượng trong bộ tộc Thích Ca vốn kiêu mạn tỏ vẻ không khâm phục. Đức Phật quy phục họ bằng cách thị hiện thần thông, phân thân làm nước và lửa, rồi cho mưa từtrên bầu trời trong sáng rơi xuống chỉ tưới ướt một số người . Yasodhara cho người ra cúng dường Đức Phật, nhưng không đi đón, đợi Đức Phật đích thân về đến cung điện mới bước ra cung nghinh ngài. Tất cả mọi người đều hoan hỉnghe Đức Phật thuyết về những chân lý đã tỏ ngộ, và dốc lòng quy y ngay theo ngài.


Rồi Đức Phật ra đi, mang theo Nanda và người em họ là Ananda đi cùng. Rahula, lúc đó đã bảy tuổi, quyến luyến đi theo cha và ở lại với Ngài. Pajapati lại khóc hết nước mắt, bà thấy tuổi già đang đến và cảm thấy côđơn hơn bao giờ. Chẳng bao lâu sau, vua Tịnh Phạn cũng băng hà, để lại bà và Sundari-Nanda hoàn toàn lẻ loi. Cũng từ đó, Gotami càng ngày càng lãnh vai trò chỉ đạo hơn, nhất là đối với những phụ nữ yếu đuối tìm đến bà. Do đó, bà bắt đầu được gọi là MahaPajapati, có nghĩa là “thủ lãnh của một đám đông”.


Mùa Thu đến, thời tiết bắt đầu mát dần, mặt đất cũng khô đi sau những ngày mưa dầm dề của mùa hạ. Đức Phật một lần nữa lại trở về Ca Tỳ La Vệ để tìm cách ngăn ngừa chiến tranh giữa hai bộ tộc Koliya và Thích Ca. Pajapati, lúc đó đã phát tâm muốn xuất gia, bèn yêu cầu được diện kiến Đức Phật. Khi ngài đưa tay ra đỡ lấy bà, người mẹ, người dì đã nuôi dưỡng ngài từ thuở ấu thơ, bà ngỏ lời cầu xin:
“Bạch ThếTôn”, bà nói, đôi giòng lệ tuôn rơi, “xin Ngài chấp nhận cho tôi đi theo, cho hàng phụ nữ được gia nhập Tăng đoàn, sống trong khuôn khổ của Giáo Pháp.”


Ngài nhìn bà lòng đầy thương cảm, nhưng dường như có một khoảng cách xa xôi giữa hai người. Ngài đã vượt qua mọi nỗi cô đơn của một con người, nhưng biết rằng con đường Ngài đi theo đó là một cuộc hành trình cô đơn,đầy cam go thử thách – và khi đạt được cứu cánh rồi vẫn không phải là chấm dứt, mà còn tiếp tục mãi mãi. Tuy ngài là một bậc giác ngộ, đã thành Phật nhưng vẫn là một con người, vẫn ở trong những điều kiện duyên hợp và tương đối của đời sống.“Phật Pháp không lìa thế gian giác” - giác ngộ không phải là một bảo vật quý giá để thụ đắc và nắm giữ, mà là một cái gì sinh động nơi tâm, phải được thâm nhập, khai phá, và luân chuyển với thực tại trước mắt. Đức Phật nhận biết rõ hơn ai hết về tánh Không, tánh bình đẳng và không phân biệt nơi vạn pháp. Nhưng với trí tuệ thấu suốt, Ngài cũng nhìn thấy sự phức tạp trong môi trường sống của con người, với những liên hệ nhân quả chằng chịt, và ảnh hưởng của những thói quen tập quán trong xã hội. Tuy tánh Phật không khác, nhưng con người sinh ra với tính khí chất khác nhau, nên được xếp đặt những vai trò khác nhau. Người nam mạnh mẽ, cương cường, nên đảm nhiệm việc gây dựng sự nghiệp, xông pha tranh đấu ngoài trường đời. Người nữ vốn yếu mềm hơn về thể chất lẫn tinh thần, nên ở nhà lo việc tề gia nội trợ, nuôi dưỡng gia đình. Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ còn nặng nhiều thành kiến và giai cấp. Một phụ nữ bỏ nhà ra đi sống đời lang thang sẽ bị nhìn với con mắt đầy nghi kỵ và thiếu thiện cảm. Trách nhiệm tinh thần đặt nặng lên vai ngài cho những sự thay đổi có tính cách cách mạng trong xã hội.
Vả lại, bà là nhũ mẫu, lại già rồi, bỏ nhà ra đi thật không thích hợp chút nào, không những thế còn phải đối đầu với biết bao nhiêu gian khổnữa.
Ngài từ tốn nói: “Pajapati, xin người bỏ ý định đó đi. Điều đó không thể nào được đâu.”
Nhưng bà vẫn tiếp tục. “Bạch Thế Tôn, Ngài có biết là bây giờ chúng tôi hoàn toàn bơ vơ,không còn gì để nương tựa, không còn gì để luyến tiếc nữa không? Tất cả mọi thứtrên thế gian này đều vô thường, giả tạm, có đó rồi mất đó. Giáo pháp Ngài tuyên giảng là con đường giải thoát mở ra cho mọi người. Xin chấp nhận cho chúng tôi được xuất gia theo Ngài tu tập, sống cuộc đời thanh tịnh trong khuôn khổ tăng đoàn.”
“Thôi đi, người đừng nói nữa” , Ngài lại nói. “Phụ nữ phải ở lại nhà. Thế giới này sẽ ra làm sao nếu phụ nữ không ở nhà lo tề gia nội trợ?”
Bà lại năn nỉ xin mấy lần nữa, nhưng Ngài vẫn từ chối. Rồi Ngài ra đi về thành Vesali cùng với tăng đoàn, và bà bị bỏ lại đàng sau.


Cùng lúcđó, những phụ nữ càng ngày càng tìm đến Pajapati, có khi từng đoàn một, để xinđược giúp đỡ và hỗ trợ, vì giờ đây họ trống trải một mình, chẳng còn chồng hay con trai - đó là không kể đám cung tần mỹ nữ trong cung ngày xưa giờ đây đã trởthành mất phương hướng. Tất Đạt Đa trở về đã đem theo đi một số lớn những người con trai, những người chồng trong bộ tộc Thích Ca gia nhập vào tăng đoàn, khiến đám phụ nữ trở thành cô quả, sống cuộc đời như góa bụa. Rồi chiến tranh xảy ra giữa bộ tộc Kolyans và Thích Ca, làm chết thêm nhiều người nam trong vùng. Các góa phụ tìm đến Pajapati có đến 500 người, tất cả đều cô đơn không còn ai, chỉ còn biết nương vào nhau mà sống.


Pajapati đã có nhiều công đức tích lũy từ nhiều quốc độ Phật trong thời quá khứ. Khi là người đứng đầu một đội ngũ nô lệ gánh nước, bà đã săn sóc cho năm vị Bích Chi Phật. Trong một kiếp khác, bà đã cúng dường 500 vị Phật Bích Chi. Chủng tử xa xưa đó đã khiến bà lãnh hội được ngay những lời giảng của Đức Phật. Xuất gia không phải chỉ là một ước muốn thayđổi hoàn cảnh, mà là một chí nguyện thiết tha muốn được giải thoát khỏi vô minh phiền não, luân hồi sinh tử. Bà là người có nhiều năng lực- có sự nhất tâm, toàn ý, với một nguồn ý chí mạnh mẽ vô tận. Pajapati ngồi xuống dưới đất cạo bỏmái tóc của mình, rồi choàng lên người những mảnh vải mầu vàng. Yasodhara, giờ đây không có chồng, cũng chẳng còn con, cũng làm theo, tiếp đó là Sundari-nanda, và một số cung phi mỹ nữ, cùng 500 người đàn bà khác đều làm nhưvậy. Rồi họ bắt đầu lên đường đi về hướng thành Visali.


Những làng mạc lúc ấy như những ấp chiến lược với hàng rào bao bọc chung quanh để ngăn chận những con thú dữ như hổ, voi rừng đến xâm nhập, ngay cả những kẻ xấu. Đoàn người nữ đông đảo này đi qua nhiều làng mạc khác nhau, đôi khi nghỉ lại nơi những nhà khách, gây sự chú ý ở các địa phương, đi đến đâu dân chúng ồn ào tụ tập lại đến thăm hỏi họ. Họ băng qua những con sông lạch, vòng qua những hồ nước, lội qua những cánh đồng đầy nước bùn lầy. Họ ngủ dưới những cây khuynh diệp và cây butô, hay dưới những bụi tre trúc, và đôi khi, họ phải lội xuống suốiđể giặt quần áo, gặp những con cá sấu, con tê giác đang bơi trên sông. Ngày qua ngày, họ lê từng bước chân mệt mỏi vượt qua cuộc hành trình 150 dặm, nếm mùi gian khổ chưa từng có với những mệnh phụ, những công nương cao quý sống một cuộcđời nhung lụa êm ấm từ trước tới nay.


Khi họ đến Visali, đám người đàn bà đứng trước cổng tịnh xá, Pajapati đứng phía trước, thân hình tiều tụy, quần áo rách nát lấm lem, đôi chân đất sưng vù chẩy máu với những vết trầy sướt. Cánh cổng đóng chặt, đám người nữ tủi thân, than khóc sầu thảm. Mọi người trong thành bắt đầu chú ý, đến tụ tập chung quanh. Nghe tiếng ồn ào, Đại đức Ananda bước ra hỏi thăm:
“Lệnh Bà Pajapati, tại sao người lại đến đây khóc than như vậy?”
“Ananda, vìĐức Thế Tôn không cho phụ nữ chúng tôi được gia nhập tăng đoàn! Xin hãy giúp chúng tôi, nói dùm với Đức Thế Tôn chấp nhận chúng tôi đi!”
Nhìn Pajapati khóc lóc thảm thiết, Ananda động lòng thương xót, vào gặp Phật năn nỉxin ba lần, cố tìm cách thuyết phục ngài chấp nhận cho họ được xuất gia, nhưngĐức Phật vẫn nhất mực từ chối. Cuối cùng, Ananda hỏi Phật:
- Bạch ThếTôn, người nữ có khả năng giác ngộ, thành tựu đạo quả không, nếu họ cũng từ bỏ đời sống thế tục mà xuất gia sống khép mình trong khuôn khổ của giáo pháp và giớiluật mà Ngài đã đề ra?
Phật trả lời rằng người nữ có khả năng làm được.
Ananda nghe vậy cảm thấy khích lệ, bèn bồi thêm:
- Bạch ThếTôn, theo như Ngài nói người nữ có khả năng tu tập để thành tựu đạo quả, như vậy thì lệnh bà Pajapati cũng có thể làm được điều đó. Vả lại, bà đã có công nuôi dưỡng Ngài từ nhỏ bằng chính sữa của mình, đã chăm lo cho ngài với biết bao nhiêu ân tình. Nay bà đã từ bỏ tất cả, không kể tuổi già sức yếu chịu bao gian khổ để đếnđây, lẽ nào Ngài nỡ lòng nào từ chối ? Nếu Thế Tôn chấp nhận bà thì đó cũng là một đại hạnh cho nữ giới được có cơ hội xuấtgia theo tăng đoàn, sống trong khuôn khổ giáo pháp và giới luật mà Đức Như Laiđã tuyên dương.


Với những lời nói tâm lý đó, Ananda đã thuyết phục được Đức Phật. Ngài đành phải chấp nhận cho Mahapajapati và phái đoàn phụ nữ được xuất gia, với điều kiện phải tuân theo Tám Giới Chánh, trong đó tỳ kheo ni phải hoàn toàn chịu phục tùng và ởvị trí thấp hơn tỳ kheo, dù đó là người nhỏ hơn rất nhiều.


Giớiluật của tăng đoàn khởi đầu chỉ có bốn giới, dần dần qua những lỗi lầm các đệ tử đã phạm, Đức Phật tăng lên càng ngày càng nhiều. Khi chấp nhận Mahajapati, Ngài còn đặt thêm 84 điều luật nghiêm ngặt riêng cho các tỳ kheo ni, ngoài 277 giới luật có sẵn. Đức Phật có bất công đối với nữ giới hay không? Làm sao chúng ta, với tầm nhìn hạn hẹp, có thể phán đoán được hành vi của một vị Phật, một bậc giác ngộ đã vượt khỏi những phân biệt đối đãi thường tình? Có điều chắc chắn là, tầm nhìn của ngài không phải chỉ hạn hẹp với những gì trước mắt, mà bao trùm một tương lai dài rộng, cho đến nhiều thế kỷ về sau. Theo tiênđoán của Ngài, giáo pháp của Đức Thích Ca sẽ bị diệt vong sớm 500 năm, nếu nữ giới được xuất gia và sống trong khuôn khổ tăng đoàn. Thiên cơ như thếnào, có lẽ chỉ có Đức Phật mới biết được. Ngài đã cố tìm cách ngăn chận không để cho điều ấy có thể xảy ra – tuy nhiên, khi không còn có thể từ chối được Mahapajapati, ngài chỉ còn cách cứu vãn bằng những hàng rào cản của giới luật.


Tất cả những giới luật Đức Phật đặt ra đó không làm suy suyển Mahapajapati. Từ nhiều kiếp trước bà đã có cơ duyên gặp gỡnhững vị Phật và đã phát nguyện một ngày nào đó cũng sẽ trở thành một vị A La Hán. Nay nhân duyên đã đến, tâm nguyện xưa càng kiên cố hơn bao giờ hết, không gì có thể làm cản trở được. Bà nói lớn: “Được rồi! Tôi sẽ chấp nhận và giữgìn những giới luật này như đang đeo một vòng hoa sen quý trên đầu vậy!”


Thếlà từ đó, bộ mặt của các đường phố trong vùng thay đổi với hình bóng những tỳkheo ni trong chiếc áo vàng, đầu cạo trọc, ngày ngày đi khất thực quanh các làng mạc. Họ chia ra từng cặp, có khi từng nhóm, ở trong những mái nhà tranh vách đất. Một số ít còn ở một mình trong rừng, ngủ dưới các tàng cây như phái nam. Họ chấp nhận sống cuộc đời kham khổ, tuân thủ theo những giới luật nghiêm khắc doĐức Phật đặt ra.


Ngày xưa, Gotami đã bế ẵm, ân cần nuôi nấng, dạy dỗ Tất Đạt Đa, ngày nay, bà học lại từ Ngài những chân lý cao siêu giải thoát. Phật dạy:
“Này Gotami, nếu pháp môn nào đưa đến khát vọng mong cầu, ngã mạn, ưa thích chốn phồn hoa náo nhiệt, không làm cho an vui, không gợi lên niềm tôn kính, không làm cho tinh tấn và có trí tuệ đạo hạnh, pháp môn ấy không phải là Chánh Pháp, không phải là Giới Luật của Như Lai.
Còn bất luận pháp môn nào không đưađến khát vọng mong cầu, không ngã mạn, làm cho an vui, ưa thích nơi yên tĩnh thanh tịnh, gợi lên niềm tôn kính, làm cho tinh tấn và có trí tuệ đạo hạnh, thì đóđúng là Chánh Pháp, là Giới Luật của Như Lai. “


Gotami tận dụng mọi cơ hội để tu học với Đức Phật, nhất tâm tọa thiền, chẳng bao lâu chứng được đạo quả A La Hán. Các mệnh phụ dòng Thích Ca cùngxuất gia với bà cũng đều được đắc quả như vậy. Nhưng trong hàng nữ đệ tử của Phật, bà được liệt vào hàng “Cao Hạ Đệ Nhất” với khả năng vượt trội, đạt được sự chứng ngộ sâu xa nhất. Bà trình lên Đức Phật: “Nay tôi ở trong không lặng hoàn toàn” – sựkhông lặng của trạng thái Niết Bàn tịch tịnh trong thiền định. Nhìn lại đoạn đường đã trải qua từ vô số kiếp, bà nói kệ như sau:
Từ bao kiếp nay
Tôi đã lang thang
Là vợ, là mẹ, là con,
Là cha, là anh, là ông nội, ông ngoại
Trong vô minh, không biết, không hiểu
Nay được gặp Thế Tôn
Tất cả đều đoạn diệt
Thân này là thân cuối cùng
Sanh tử sẽ không còn trở lại!

Vài năm sauđó Bà thỉnh cầu Đức Phật cho điều chỉnh lại giới luật để được bình đẳng hơn giữa nam và nữ tỳ kheo, nhưng Ngài đã cương quyết từ chối.

Pajapati sốngđến 120 tuổi. Một ngày nọ, thấy trong người yếu mệt, biết duyên trần đã dứt, Bà xin Đức Phật cho Bà được nhập diệt. Lúc đó mặt đất rung chuyển dữ dội, trời mưa như trút nước - mưa như nước mắt khóc thương của những người ởlại. Đức Phật đến, chứng minh cho bà được nhập Niết Bàn.

Lúc ấy, những hiện tượng lạ xảy ra – Gotami tự phân ra thành nhiều thân, hòa vào trong hưkhông, bay bồng bềnh, lướt trên ngọn cây, tỏa năng lượng đầy sức nóng. Rồi Bà nằm xuống, vượt qua các tầng thiền sâu kín trong tiến trình nhập diệt, như một vị Phật.

Hoa trời lảtả rơi, các ngọn núi đều chuyển động, và trong ngày tang lễ, mặt trời, trăng và sao đồng xuất hiện một lúc. Sau lễ trà tỳ, xá lợi của Bà để lại nhiều vô số, được Ananda gom lại đem giao cho Đức Phật.

Ngài nói:“Pajapati là một thân đại thụ trong cây của Ni Đoàn.” HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.1/5/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.
Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Thượng Thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt NamTrên Thế Giới
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Kính bạch quí Ngài,
Kính thưa quí vị,

Mùa Phật Đản 2635 Phật lịch 2555 – đã về với những người con Phật khắp nơi trên thế giới. Vì lòng thương chúng sinh, đức Từ Phụ Thích Ca MâuNi Phật đã từ cung trời Đâu Suất giáng sinh vào dòng họ Thích Ca, con vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia, vương quốc Ca Tỳ La Vệ (bây giờ là nước Nepal), cách nay 2635 năm, mang thế danh là Tất ĐạtĐa.

Thái tử Tất Đạt Đa sinh vào cõi ngưòi, cũng như muôn vàn người khác. Ngài cũng trải qua những thời gian sinh trưởng, suy yếu và viên tịch. Nhưng, ngài sớm tỉnh thức, biết rõ lý vô thường sinh, lão, bệnh, tử và sự sầu bi khổ ưu não của kiếp người, Ngài quyếtđịnh rời xa thế lạc, tìm đường giác ngộ, giải thoát cho mình và cho chúng sinh.

Qua sáu năm khổ-hạnh, 49 ngày nhập định, Ngài thấy rõ như thực lý duyên sinh, nhân quả trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) của sự vật, của chúng sinh, vào buổi ban mai, ngày trăng tròn tháng Tư âm lịch, Ngài chứng nhập ngôi vô thượng giác.

Tùy duyên hóa độ.Sau ngày thành đạo, suốt 45 năm tại thế, Ngài bộ hành khắp nơi trên xứ Ấn xưa,đem một phần kiến giải Ngài chứng ngộ được, ban rải cho mọi người. Sự giáo hóa của Ngài lấy giới, định, tuệ làm căn bản, xả chấp, thanh tịnh hóa thân, miệng, ý, và lấy từ bi, trí tuệ, bình đẳng, hòa hợp, tinh tiến làm phương châm hành đạo. Dùng thắng pháp với những bậc thượng căn. Dùng thường pháp với những bậc bình thường, nhưng không kém phần lợi lạc.

Trong kinh Tăng Chi Bộ có ghi: “ Đức Thế Tôn, một hôm, Ngài đáp lời thỉnh cầu của hai vị Bà la môn 120 tuổi, trưởng lão già yếu, đến yết kiến Ngài,

Ngài nói: “Thật vậy, các vị là những vịBà la môn trưởng lão, già yếu. Các vị đã thưa thật là không làm được điều thiện gì, không làm được những điều gì để chấm dứt các sự sợ hãi, nhưng muốn được lời chỉ dẫn, để được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Các vị nên nhận thức rằng, ở trongđời sống này, các vị đã và đang bị già, bệnh, chết dắt dẫn. Các vị cần phải chếngự thân, chế ngự lời nói và chế ngự ý. Chếngự là chỗ nương tựa, là hang trú ẩn, là hòn cù lao, là ngọn đèn là chỗ quy y, là chỗ đạt tới mục đích và sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài”. Ngài kết khuyến:

“Đời sống bị dắt dẫn, mạng sống chẳng là bao;
Bị già lôi kéo đi, không có nơi nương tựa.
Hãy luôn luôn quán tưởng, sợ hãi tử vong này.
Hãy làm các công đức, đưa đến chân an lạc.

Ở đây chế ngự thân, chế ngự lời và ý.
Người ấy dù mất đi, cũng được hưởng an lạc.
Vì khi còn đang sống, đã làm các công đức!”

Hiện nay, chúng ta sống trong thời đại “đấu tranh kiên cố”. Trên thế giới này, không một nơi nào được gọi là an bình thực sự. “Tâm bình thế giới bình: Trong kinh, đức Phật thường xuyên hướng dẫn chúng ta chế ngự thân, miệng, ý. Thân, miệng, ý được chếngự, được thanh tịnh kiên cố, tất nhìên, đấu tranh kiên cố sẽ không còn, mà sự vui hòa, sự an bình sẽ đem lại cho chúng ta, cho nhân loại.

Nay mùa kỷ niệmđức Phật đản sinh, chúng ta, cùng nhất tâm, đem thân, miệng ý thanh-tịnh, chung phần cầu nguyện cho giáo lý bình đẳng, giải thoát được truyền giảng tạì thế gian lâu dài, cho thế giới thanh bình, chúng sinh an lạc.

Nhất tâm cầu nguyện cho mọi loại chiến tranh được chấm dứt, nền tự do, dân chủ được thực hiện khắp mọi nơi và nhân loại được tự do, an vui, ấm no, hạnh phúc.

Nhất tâm cầu nguyện các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam sáng suốt, nhận thức thời cuộc, sớm thực hiện quyền dân chủ, tự do chân chính cho người dân, để tất cả, chung sức bảo vệ và đem lại sự an bình, thịnh vượng cho nhân dân, cho đất nước Việt-Nam.

Nhất tâm cầu nguyện tất cả các vị đã mất cho lý tưởng quốc gia, tự do, đạo giáo và trong mọi trường hợp khác, đều được vãng sinh về nơi an lạc.

Nhất tâm cầu nguyện cho tất cả chúng ta và mọi người, mọi gia đình được an vui, hạnh phúc.

NAM MÔ TIÊU TAI GIÁNG CÁT TƯỜNG BỒ TÁT .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.1/5/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT. 
Ba La Mật Đa là dịch âm từ Pàramità, nếu dịch theo chữ, là Đáo Bỉ Ngạn, có nghĩa là qua bờ bên kia.
Người học Phật thường nghe nói đến Lục Độ Ba La Mật là sáu hạnh, mà nếu hành giả nương theo một cách chính xác, miên mật thì có thể đạt tới những quả vị như Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán hoặc cao hơn. Như vậy đủ thấy sự vi diệu và thù thắng cùa sáu hạnh này như thế nào.
Lục Độ Ba La Mật gồm: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ.
Cả hai phái, Phật Giáo Nguyên Thủy (PGNT) và Phật GiáoĐại Thừa (PGĐT) đều dựa trên căn bản này, bổ túc thêm bốn hạnh, tùy theo mụcđích và quan điểm của phái tu mà sắp xếp thành một danh xưng chung là Thập Ba La Mật hay còn gọi đơn giản là Mười Pháp Ba La Mật.
Trước hết, để dễ nhận diện, chúng ta sẽ đi từng bước qua bảng đối chiếu Thập Ba La Mật sau đây, của hai phái PGNT và PGĐT:

PG NGUYÊN THỦY(PGNT):
PG ĐẠI THỪA (PGĐT):
1- Bố thí (Dàna) 1-Thí ba la mật
2- Trì giới (Silà) 2- Giới ba la mật
3- Xuất gia (Nekkhamma)
3- Nhẫn ba la mật
4- Trí tuệ (Pãnnà) 4- Tinh tấn ba la mật
5- Tinh tấn (Viriya)
5- Thiền ba la mật
6- Nhẫn nại (Khanti)
6- Bát-nhã ba la mật
7- Chân thật (Sacca)
7- Phương tiện ba la mật
8- Quyết định (Adhithàna)
8- Nguyện ba la mật
9- Tâm Từ (Mettà) 9- Lực ba la mật
10- Tâm Xả (Upekkhà)
10- Trí ba la mật

Trước hết, chúng ta nhận thấy cả hai phái, Phật Giáo Nguyên Thủy (PGNT) và Phật Giáo Đại Thừa (PGĐT) đều sắp xếp hai hạnh, Bố-thí và Trì-giới lên trên, chứng tỏ tầm quan trọng của hai hạnh này.

1-BỐ THÍ (PGNT) – THÍ BA LA MẬT (PGĐT):
Gồm Tài-thí (Dravyadàna), Pháp-thí (Dharmadàna) và Vô-úy-thí (Abhayadàna) Khi nói tới “cho”là ta phải hình dung ra ba yếu tố: người cho, người nhận và vật cho.
Tài-thí gồm hai loại là Ngoại-thí và Nội-thí. Trong hai loại này, Ngoại-thí dễ cho hơn vì đó là những vật bên ngoài như tiền bạc, áo quần, đồ đạc, lương thực v…v… Còn Nội-thí là những bộ phận trong thân thểcon người nên người muốn cho Nội-thí phải là người phát tâm đại bi dõng mãnh, như khi Đức Phật còn làm Bồ Tát, Ngài đã từng bố thí đầu, mắt, tay, chân cho kẻcầu xin. Ngày nay, với kỹ thuật y học tân tiến, chúng ta cũng có thể chia xẻ bộphận cho nhau để cứu sống lẫn nhau, nhưng vẫn đòi hỏi người cho phải có lòng mẫn cảm phi thường.
Pháp-thí không chỉ là chia xẻ cho nhau những lời giảng dạy chánh pháp của Chư Phật, mà dùng lời chân thật đem lại hòa khí, an lạc cho nhau cũng có thể gọi là Pháp-thí vì Chư Phật há chẳng khuyên dạy chúng ta rằng ái ngữ có thể mang đến niềm vui và hạnh phúc ư?
Theo kinh tạng Nguyên Thủy (Anguttara, Itivuttaka) thì chỉ có hai loại Bố-thí, là Tài-thí và Pháp-thí, nhưng theo tinh thần giáo lý Đại Thừa thì ngoài hai loại bố thí căn bản trên, còn một loại bố thí nữa không kém phần quan trong. Đó là Vô-úy-thí, tức là giúpđem sự bình an tới cho người đang quay cuồng, sợ hãi.
Theo đúng nghĩa cao cả từ lời Phật dạy thì bố là khắp, thí là cho. Bố thí là xả bỏ lòng tham lam vị kỷ, có thể cho tất cả những gì ta có, tới tất cả những ai thực sự đang cần. Khi cho, người cho phải hoan hỷ, đại lượng, cho đúng lúc, không so đo, không chần chừ. Chỉ biết, kia là kẻ đang cần, đây là vật ta đang có, lòng rộn rã lời nhắc nhở khôn nguôi của Chư Phật trong Kim Cương Chân Kinh: “Hãy cho. Hãy cho đi. Hãy cho mà không chờ nhận lại, dù là một lời cám ơn. Hãy chovà quên ngay những gì vừa cho và cho ai.Ấy là đã liễu nghĩa tam-không, đã làm nên hạnh bố thí vô tướng”. Đây cũng là thành quả của Bồ Tát bậc Sơ-địa (Hoan-hỷ-địa)

2-TRÌ GIỚI (PGNT) GIỚI BA LA MẬT (PGĐT):
Theo Phạn ngữ, giới có nghĩa là luật, là nội quy đặt ra những kỷ cương buộc những ai trong cùng môi trường phải tuân theo để giữ được sự tốt đẹp, an lạc và trật tựchung.
Tỷ như trên phố xá đông đúc phải cóluật giao thông, khi nào xe bên trái ngừng, khi nào xe bên phải đi, nơi nàođược chạy nhanh, nơi nào phải chạy chậm. Những người đi trên phố xá đó phải cùng nghiêm chỉnh tuân hành để tránh tai nạn, tránh phiền não khổ đau cho nhau, đưađến mất hòa khí, sân hận.

Trong đạo, giới là chuẩn mực của đạo đức đượcĐức Phật đặt ra làm thành trì bảo vệ, che chở chúng ta khỏi phạm điều trái ngang, bất thiện. Nhìn tổng quát, chúng ta thấy Đức Phật phân ra hai loại giới là Biệt-giải-thoát-giới và Bồ-tát-giới.
Biệt-giải-thoát-giới hay gọi cho dễ hiểu là Tùy-thuận-giải-thoát là chỉ dạy cho biết, không buộc người phải tuân theo; tức là, giữ giới nhiều thì giải thoát nhiều, giữ giới ít thì giải thoát ít.
Nghiêm túc hơn là Bồ-tát-giới, theo tinh thần Đại-thừa lại phân định ra ba loại là Nhiếp-luật-nghi-giới, Nhiếp-thiện-pháp-giới và Nhiêu-ích-hữu-tình-giớigiới đầu là những giới điều rất căn bản cho cả hai hàng Phật tử tại gia và xuất gia.
Nhiếp-luật-nghi-giới, Phật tử tại gia đã quy y Phật, tùy sự phát nguyện mà phải tuân theo Ngũ-giới, Bát-quan-trai-giới, Thập-thiện v…v… Hàng xuất gia thì tùy theo giới đã thọ mà phải tuân trì mười giới, mười sáu giới, hai trăm năm mươi giới hay ba trăm bốn mươi tám giới.
Trong kho tàng kinh điển lưu truyền cho hậu học, Đức Phật luôn nhắc nhở về Giới, Định, Tuệ là pháp môn căn bản của người học đạo; trong đó, Giới đứng đầu vì giữ được Giới mới sanh Định, rồi an trú được trongĐịnh mới phát triển Tuệ.
Phác họa vài nét đơn sơ của người biết tự chế theogiới luật thì điển hình, tuân theo ngũ giới, ta tránh được sự sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và say sưa nhảm nhí. Tuân theo mười giới, ta có thêm nétđẹp của sự giản dị, sự trong sáng, biết thiểu dục tri túc, biết giữ gìn sức khỏe qua sự thọ nhận thức ăn và xả bỏ lòng tham tích lũy tài sản vật chất. Rồi tuân theo mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh, hai trăm năm mươi giới, ba trăm bốn mươi tám giới v…v… chúng ta sẽ tạo biết bao nhân lành trong kiếp hiện tiền. Hành trì giới luật giúp hành giả thường xuyên tự tỉnh giác, rốt ráo cũng là đạt tới thành quả của bậc Nhị-địa (Ly-cấu-địa)
Ngoài đời, theo PGNT, giới còn được hiểu là những trách nhiệm, bổn phận chung của những người liên hệ với nhau. Đó là trách nhiệm và bổn phận giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa vua và tôi, giữa chủ và tớ, giữa thầy và trò v…v… Nếu mọi người đều chu toàn đượcgiới hạnh với nhau thì niềm vui và hạnh phúc không thể vắng mặt.

3-XUẤT GIA (PGNT)– NHẪN BA LA MẬT (PGĐT):
Tới đây, sự sắp xếp giữa PGNT và PGĐTđã bắt đầu có khác biệt. Hành giả tu theo PGNT, sau khi đã phát tâm từ bi, bốthí quảng đại, đã nương theo giới để trau giồi phẩm hạnh thì điều thứ ba có thểtiến tới là xuất gia, sống đời tu sỹ, thực sự cắt ái ly gia mới có nhiều hoàn cảnh thuận lợi cho sự tu tập hầu phát triển được phẩm giá và nhân cách của những người đang đi trên đường trung đạo, tự độ để đạt quả vị A La Hán.
Trong khi đó, bên PGĐT, hạnh thứ ba chưa phải là xuất gia, mà Nhẫn- ba-la-mật mới cần kế tiếp; vì với cái nhìn dõng mãnh hơn, khi bố thí (cho Nội-thí), và sâu sa hơn (Vô-úy-thí) thì hành giả đã phát bồ-đề-tâm, không chỉ tự độ mà còn độ tha. Khi ấy, hành giả đã hành bồ-tát-hạnh, đã đi trên bồ-tát-đạo nên sự nhẫn nhục cần theo sát để yểm trợ cho những nghịch duyên mà Bồ Tát sẽ gặp.
Như thí dụ về Bồ Tát Thường Bất Kinh, nhận biết bao lời mắng chửi của thế nhân, nhận sự ruồng rẫy như đuổi xua một kẻmất trí, điên rồ, khi gặp ai Bồ Tát cũng chắp tay cung kính “Tôi không dám khinh ngài vì ngài là Phật sẽ thành.”
Giữ được hạnh Nhẫn-ba-la-mật này, hành giả đạt tới thành quả của bậc Tam-địa (Phát-quang-địa)

4-TRÍ TUỆ (PGNT) - TINH TẤN BA LA MẬT (PGĐT):
Sự sắp xếp này tương đối dễ hiểu, vì với PGNT, sau khixuất gia, vị tu sỹ cần nỗ lực phát triển trí tuệ, để khi học hỏi giáo pháp, hiểu được tận tường, hầu không sai lạc khi hành trì. Theo nghĩa đơn giản, trí tuệ là sự hiểu biết trong sáng từ những suy tư chính xác, miên mật, lột dần vỏvô minh, mở con mắt tuệ nhìn ra thật tướng của vạn pháp.
Với PGĐT, sau hạnh Nhẫn là Tinh-tấn-Ba-la-mật vì sự tinh cần tu tập cực kỳ quan trọng khi thường xuyên phải giữ tâm Nhẫn đểkhông hủy nhục chúng sinh, phản kháng nghịch duyên, sinh lòng sân hận.
Duy trì được Tinh- tấn-ba-la-mật làđạt thành quả của bậc Tứ-địa (Diệm-huệ-địa)

5-TINH TẤN (PGNT) – THIỀN BA LA MẬT (PGĐT):
Với PGNT thì Tinh-tấn là phối hợp của Trí-tuệ và Quyết-tâm nên Tinh-tấn góp phần không nhỏ trong sự thăng tiến của hành giả. Đó là năng lượng tinh thần có thể giúp ta chuyển thất bại sang thành công.
Trong khi, với PGĐT, Thiền ở đâyđược hiểu là Thiền-định, nằm trong Tam-vô-lậu-học, là pháp môn căn bản dẫn hành giả tới cửa Bát-nhã. Cho nên, tới giai đoạn này, PGĐT chú tâm vào thiền định, cẩn trọng không rời sự yểm trợ của Bát-chánh-đạo nên đã giữ được chánh niệm cho tâm an định mà đạt thành quả của bậc Ngũ-địa (Nan-thắng-địa)

6- NHẪN NẠI (PGNT) – BÁT NHÃ BA LA MẬT (PGĐT):
Hạnh Nhẫn-nại không chỉ là chịu đựng những thiệt thòi, oan trái, như tinh thần PGNT chỉ dạy, mà đối chiếu là Bát-nhã-ba-la-mật mang tinh thần Đại thừa, dùng trí tuệ quán chiếu nên thấy rõ mọi thực tướng của các pháp. Bất khả thuyết, bất khả nghị,bất khả ngôn mới là chân thực. Thấu suốt diệu lý bình đẳng nơi đây là đạt thành quả của bậc Lục-địa (Hiện-tiền-địa)

7-CHÂN THẬT (PGNT) – PHƯƠNG TIỆN BA LA MẬT (PGĐT):

Lời chỉ dạy trong tất cả các kinh điển không bao giờ thiếu sự nhắc nhở phải nói lời chân thật. Sự thật luôn đi đôi với tàm qúy. Tàm là biết hổ thẹn với mình. Quý là biết hổ thẹn với người. Tàm quý là lòng tự trọng giúp ta không nói lời dối trá hại người. Trái lại, nếu nói lên sự thật nào đem lợi ích cho người thì dẫu có bị thiệt thòi, hành giả vẫn sẵn sàng hiến tặng.
Đây là trí tuệ quyền biến của Phương-tiện-ba-la-mật, là tự-tánh-thiện, là bản chất của đạo đức đưa đến thành quả của bậc Thất-địa (Viễn-hành-địa)

8-QUYẾT ĐỊNH (PGNT) – NGUYỆN BA LA MẬT (PGĐT):
Như hồ nước càng trong, càng nhìn thấy sâu, thì người tu tập càng lắng tâm, càng thấy rõ hỷ lạc. Đã thấy rõ, biết rõ đường đi, hành giả sẽ loại bỏ mọi đắn đo, lưỡng lự, chỉ một lòng vững tin và quyết định cho mục tiêu tối hậu. Đó cũng là chặng đường Văn, Tư, Tu mà PGĐT trải qua, để kết thành Nguyện-ba-la-mật. Văn là huệ, do học mà biết. Tư, do chiêm nghiệm, quán sát mà rõ. Và Tu là phát triển sự nhận biết để tự độ rồi độtha, đạt thành quả của bậc Bát-địa (Bất- động-địa)

9- TÂM TỪ (PGNT)– LỰC BA LA MẬT (PGĐT):
Tâm từ đứng đầu Tứ vô lượng tâm (Từ,Bi, Hỷ, Xả) có năng lượng cực kỳ mạnh mẽ vì Tâm-Từ, theo tinh thần Đạo Phật là lòng thương yêu rộng lớn không giới hạn, không phân biệt, hướng tới muôn loài.
Khi ta có thể yêu người như yêu ta thì năng lượng của Tâm Từ sẽ tự động tỏa sáng, mang hạnh phúc đến cho người, đểngười lại trở thành hạnh phúc của ta.
Khi Đức Phật về thăm nhà lần đầu, La Hầu La mới bẩy tuổi mà đã đến bên Phật, chắp tay cung kính thưa rằng: “Bạch Đức Sa-Môn, chỉ cái bóng của Ngài cũngđủ làm thân tâm con mát mẻ lạ thường”.
Lời phát biểu chân thực này tuy rất thơ ngây nhưng đã vô tình chứng thực sức mạnh của người có Tâm-Từ có thể rực sáng và truyền đạt sự ấm áp tới người xung quanh.
Tâm-từ ở đây được PGĐT bổ túc Trí-huệ nhận rõ chân, ngụy, rồi theo tinh thần “như lý tác ý”nghĩa là dựa trên lý mà diễn đạt ý, tạo thành Lực-ba-la-mật, giúp chúng sanh dứt bỏ tà kiến (điên đảo kiến) mà hầu hết chúng sanh đều mắc phải.

Hoàn thành Lực-ba-la-mật là thành quả của bậc Cửu-địa (Thiện-tuệ-địa)


10-TÂM XẢ (PGNT) - TRÍ BA LA MẬT (PGĐT):
Tâm-xả đứng thứ tư trong Tứ- vô-lượng-tâm nhưng lại là điều khó thực hiện nhất vì những cái vô-thường đã huân tập từ khi con người lọt lòng mẹ, làm sao có thể dễ dàng coi chúng là thường, mà xả bỏ?Mọi thứ quanh ta, từ tinh thần đến vật chất đều vô hình chung cột ta thành sởhữu chủ. Bởi có Cái Ta, Cái Của Ta, mới không kham nhẫn nổi những thóa mạ,những oan trái nào đụng chạm đến. Làm sao mà xả? Làm sao mà bỏ?
Chỉ có Trí Tuệ Bát Nhã “Sắc tức thị không. Không tức thị sắc”,thấy rõ chân tướng vạn pháp để nhìn lại kiếp nhân sinh mới có thể không sợ sinh tử, cũng chẳng mong Niết Bàn, như thiền-sư thõng tay vào chợ mà chẳng lụy xôn xao phố chợ.
Bồ Tát giữa bao la trời đất, cho không chờ nhận, xả chẳng vương mang, mới đạt tới thành quả của bậc Thập-địa (Pháp-vân- địa).

THẬP BA LA MẬT TRONG THẾ GIỚI NHÂN LOẠI

Giới thiệu đơn giản về Thập ba-la-mật như trên tạm cho chúng ta cái nhìn đại cương về cuộc hành trình tu tập của những ai muốn tìm sự giải thoát, giác ngộ. Tuy nhiên, đồng hành vớiđoàn người đang đốt đuốc cùng đi, thì ánh đuốc của họ cũng vô hình chung, soi sáng xung quanh. Đó là những giao tiếp liên hệ trong xã hội.

Từ khoảng nửa thế kỷ gần đây, giớitrí thức, học giả Tây phương đã không ngừng nghiên cứu về Đạo Phật và họ kinh ngạc nhận ra rằng hình thức thành lập tăng đoàn cũng như cách sinh hoạt nương theo giới luật Đức Phật đặt ra cách nay hơn hai mươi lăm thế kỷ cũng chính là những mô hình căn bản mà thế giới nhân loại hiện tiền đang áp dụng. Một xã hội lý tưởng là một xã hội bình đẳng, nơi đó, mọi người đều được chấp nhận để phát triển tài năng và trí tuệ rồi từ đó, nhận trách nhiệm tùy theo căn cơ mình.
Xã hội đó sẽ không thiếu an lạc và hạnh phúc nếu những thành viên trong đó biết tương kính nhau, từ bi, ôn hòa với nhau, dùng ái ngữ và vị tha mà cư xử với nhau, bỏ lòng tham lam ích kỷ để không xâm phạm nhau …

Chúng ta có thể thấy môi trường đẹp đẽ này, theo bản đồ Thập-ba-la-mật dẫn tới.
Nào, chúng ta thử cùng đi xem! Mình khởi hành từ Bố Thí Ba La Mật nhé!
Ai cũng có thể hiểu định nghĩa căn bản về bố-thí nên không ai nghèo đến nỗi không có tặng vật để cho, vì theo tinh thần pháp-thí của Bố-thí-ba-la-mật thì không chỉ chia xẻ về giáo pháp mới là cho, mà một nụ cười, một lời an ủi đúng lúc cũng là tặng phẩm.
Dù thế giới ngày nay được thẩm định là thời kỳ băng hoại khá trầm trọng về đời sống tâm linh nhưng xét chung, chúng ta vẫn thường ít nhiều hành trì hạnh bố thí mà vô tình không nhận biết.
Thực tiễn hơn, về tài-thí, hãy nhìn những nhà tỷ phú trên thế giới với những hội từ thiện mà họ lập ra để thấy rằng mối tương quan giữa người với người vẫn được ràng buộc thân ái qua hạnh bố thí.

Nhìn những nhà tù đông đảo phạm nhân, ngoài sự ưu tư về sự phạm pháp, thì ở chiều hướng khác, kẻ phạm tội đang bị trừng trị có nghĩa là luật pháp vẫn đang được thi hành nghiêm minh. Chínhgiới luật này đang bảo vệ người lương thiện, đồng thời chuyển hóa kẻ bất thiện. Thử hỏi, trong quốc gia nào, xã hội nào mà không có trì giới?

Lịch sử nhân loại từng chứng minh không có sự giải quyết xung đột nào bằng bạo lực mà có thể tồn tại lâu dài. Chẳng phải chỉ thời xưa có vua A Xà Thế tỉnh ngộ, buông gươm, tuân lời Phật dạy giữ nước trị dân bằng tâm từ mới có thể bình thiên hạ; mà thời nay, dũng tướng chinh đông kích tây dọc ngang khắp cõi là Đại Đế Nã Phá Luân của Pháp-quốc cũng tới lúc phải thốt lên: “Ở đời có hai sức mạnh là sức mạnh của thanh gươm và sức mạnh của lòng từ bi. Nhưng cuối cùng thì lòng từ đã đánh bại thanh gươm”.

Tâm-Từ, khi được hiển lộ có thể chấm dứt binh đao, nhưng tiến trình đạt tới may mắn này không thể thiếu Nhẫn-ba-la-mật.
Thủ tướng Mohandas Karamachand Ganhdi của Ấn Độ là biểu hiện toàn vẹn sự phối hợp giữa Nhẫn-nhục (Ksànti) và Trí tuệ (Parajna) mớiđưa quốc gia và dân tộc Ấn qua cơn nguy khốn bằng sự tranh đấu bất bạo động. Sựtranh đấu bằng nhẫn nhục và trí tuệ này dựa trên nền tảng “chấp trì chân lý”,tiếng Phạn là Satyagraha, không đi ngoài lời dạy của Đức Phật về Thập Ba-la-mật.

Sự thành công mầu nhiệm của cuộc cách mạng lớn lao không tốn máu xương trong lịch sử nhân loại đã khiến dân Ấn - nói riêng, và thếgiới - nói chung- tôn vinh ngài Ganhdi là bậc Thánh, qua danh xưng Mahatma Ganhdi, chứ không là tên nguyên thủy đầy đủ của ngài nữa.

Nhìn xa rồi nhìn gần, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông của Việt Nam chúng ta là hiện thân vị Đạo Sư đã nghiêm túc hành trì Thập-ba-la-mật từ thời thơ ấu vì được ông nội là vua Trần Thái Tông và cậu là Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung hướng dẫn tư tưởng Thiền Tông nên Ngài chí thiết tôn sùng Đạo Phật.
Suốt mười bốn năm trên ngôi vua, Ngài đã mang tâm BồTát mà trị nước an dân. Hạnh thứ tám trong Thập-ba-la-mật của PGNT cũng là hạnh thứ chín của PGĐT đã giúp Ngài buông xả (Upekkhà) đời sống vật chất thế gian, truyền ngôi cho Thái Tử Trần Thuyên để thực hành hạnh Xuất Gia (Nekkhamma) rồi không ngừng sống chánh niệm, rốt ráo hướng tới hạnh thứ mười là Trí-ba-la-mật.

Người nắm giữ vận mạng dân chúng thế nào thì ảnh hưởng tới dân chúng thế ấy. Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi dân tộc còn cần có phước báu của Tổ Tiên vun bồi nhiều đời nhiều kiếp để vượt qua những khổ nạn hiện tiền.
Hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, giáo pháp Đức Phật dạy chẳng những vẫn tồn tại mà còn đang lan rộng từ đông sang tây. Những khám phá mới mẻ của khoa học ngày nay lại chỉ là những điều Đức Phật đã thuyết giảng một cách bình thường từ xưa.
Câu chuyện về giáo sư Rhys Davids, người Anh, vẫn cònđược kể lại như sự công nhận những chính xác và lợi ích về giáo pháp của Đức Phật với những diễn biến trên thế giới ngày nay.
Rhys Davids là con trai của một mục sư Cơ Đốc Giáo. Ông đã bỏ ra nhiều năm học tiếng Pali và nghiên cứu các kinh điển Phật giáo cảNguyên Thủy và Đại Thừa, chỉ với mục đích muốn chứng minh là giáo lý Đạo Phật thua xa giáo lý Cơ Đốc.
Nhưng ông đã thất bại với công việc này vì sau nhiều năm khổ công nghiên cứu, Rhys Davids đã trở thành một Phật Tử, hết lòng ca ngợi Bát Chánh Đạo và Tứ Diệu Đế, là những pháp môn mà ông trân trọng và hoan hỷ áp dụng cho chính bản thân và giađình.

Đã là con Phật, chúng ta phải quyết tâm tinh tấn và tin tưởng rằng:

“Tụng kinh giả, minh Phật chi lý,
Niệm Phật giả, minh Phật chi cảnh”
Nghĩa là:
Người tụng kinh lâu ngày sẽ hiểu ý kinh,
Người niệm Phật lâu ngày sẽ thấy cảnh Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.1/5/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.
MỘT VÀI LỢI ÍCH CỦA SỰ HIỂU BIẾT LUẬT NGHIỆP BÁO.
 



Là những người Phật Tử chúng ta hiểu luật Nghiệp báo theo những lời dạy của Đức Phật. Sự hiểu biết về luật Nghiệp báo này mang lại nhiều lợi ích. Sau đây là một vài lợi ích.

1. Hiểu biết luật Nghiệp báo làm thoả mãn óc tìm tòi hiểu biết của chúng ta về sự bất bình đẳng của người, của chúng sinh. Chúng ta muốn biết tại sao chúng sinh khác nhau, tại sao chúng sinh không giống nhau, mặc dầu chúng đều là chúng sinh. Tại sao có sự bất đồng giữa người với người giữa loài vật với loài vật. Sự bất đồng giữa các chúng sinh đã được giải thích một cách hữu lý theo luật Nghiệp báo. Sự hiểu biết về luật Nghiệp báo thỏa mãn lòng mong mỏi hiểu biết của chúng ta về sự bất đồng giữa các chúng sinh. Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy rằng nhờ hiểu biết luật Nghiệp báo mà nhiều người đã trở thành Phật tử.

2. Hiểu biết luật Nghiệp báo mang lại niềm hy vọng cho chúng ta. Chúng ta luôn luôn hy vọng mình sẽ khá hơn, tốt hơn trong tương lai. Chúng ta không thỏa mãn với những gì mà chúng ta đang có trong hiện tại. Chúng ta có thể luôn luôn cải thiện điều kiện và hoàn cảnh chúng ta bằng cách tạo những Nghiệp lành. Như vậy hiểu biết luật Nghiệp báo mang lại cho ta niềm hy vọng. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ mất niềm hy vọng.

3. Hiểu biết luật Nghiệp báo sẽ an ủi chúng ta những khi chúng ta gặp nghịch cảnh. Hiện nay con người gặp rất nhiều nghịch cảnh và gặp nghịch cảnh nhiều lần trong cuộc sống của họ: mất của cải, tài sản, buôn bán lỗ lã, mất bạn bè, mất người thân yêu. Những người không hiểu biết luật Nghiệp báo khi gặp những nghịch cảnh như thế họ sẽ không có niềm an ủi, họ có thể trở nên thất vọng, xuống tinh thần nhiều khi hủy cả mạng sống của mình, nhưng những người hiểu biết luật Nghiệp báo có thể hiểu rằng những nghịch cảnh này là kết quả của những Nghiệp mà họ đã làm trong quá khứ, họ sẽ thấy chẳng có ai để trách cứ ngay cả trách cứ chính mình. Như vậy, người hiểu luật Nghiệp báo sẽ có được niềm an ủi lớn lao khi gặp cảnh không toại ý hay nghịch lòng.

4. Hiểu biết luật Nghiệp báo giúp ta có đủ sức mạnh tinh thần, không bị chao đảo trước mọi thăng trầm của cuộc sống. Sống trong cuộc đời này, nhiều lúc chúng ta phải chịu cảnh thăng trầm theo cuộc sống. Chúng ta không thể nào tránh khỏi thành công và thất bại, được danh, mất danh, được lợi, mất lợi, được khen bị chê, đau khổ, hạnh phúc trong cuộc sống này. Khi hiểu biết luật Nghiệp báo thì dầu gặp cảnh thành công hay thất bại, hanh phúc hay đau khổ chúng ta vẫn bình tâm. Đứng trước mọi hoàn cảnh tốt xấu chúng ta sẽ không bị chao đảo, lay động. Không bị giao động trước sự thành công hay thất bại là một điều rất quan trọng. Khi thành công hạnh phúc người ta cảm thấy hân hoan thỏa mãn, nhưng khi gặp thất bại người ta sẽ âu sầu buồn nản xuống tinh thần. Bởi vậy, cuộc sống của họ mang nhiều nỗi khốn cùng đau khổ. Nếu chúng ta hiểu biết luật Nghiệp báo, chúng ta có thể đối diện với chúng một cách bình thản không bị chúng ảnh hưởng.

5. Hiểu biết luật Nghiệp báo giúp chúng ta biết được tiềm năng to lớn của chính mình; đó là chính chúng ta có thể tạo nên tương lai cho chúng ta. Chúng ta phải nhận hậu quả của các Nghiệp mà chúng ta đã tạo, bởi thế chúng ta có thể tạo tương lai cho chính mình bằng cách tạo nên những nghiệp thiện trong hiện tại. Chúng ta có đủ năng lực để tạo tương lai cho chính chúng ta nếu chúng ta có sự hiểu biết về luật Nghiệp báo. Không những biết đến năng lực tiềm tàng của mình, chúng ta còn biết rằng: chính năng lực này sẽ tạo dựng cho đời sống tương lai của chúng ta. Chúng ta có năng lực để tạo cho đời sống tương lai của chúng ta tốt hơn đời sống hiện tại. Như vậy, sự hiểu biết luật Nghiệp báo đã giúp cho chúng ta hiểu rằng chúng sinh có năng lực tiềm tàng để tạo nên tương lai này. Chúng ta không cần tìm kiếm năng lực bên ngoài cũng không cần tìm kiếm năng lực của các vị thánh thần để tạo nên tương lai của chúng ta. Thực vậy, chỉ một mình chúng ta mới có thể tạo nên tương lai cho chúng ta.

6. Hiểu biết luật Nghiệp báo giúp cho chúng ta hiểu biết trách nhiệm của mình. Bởi vì quả của Nghiệp mà ta đang nhận chịu có nguyên nhân là Nghiệp của chính chúng ta. Bởi vậy, chúng ta an vui hạnh phúc hay đau khổ chính chúng ta chịu trách nhiệm. Bởi vì chúng ta chịu trách nhiệm về những hạnh phúc và đau khổ của chúng ta nên chúng ta không trách cứ kẻ khác hoặc trách cứ hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài. Như vậy, nhờ hiểu biết luật Nghiệp báo mà chúng ta có trách nhiệm về chính mình. Nếu chúng ta muốn tốt đẹp hơn trong tương lai thì chúng ta phải tạo các Thiện Nghiệp ngay bây giờ. Tóm lại, nhờ hiểu biết luật Nghiệp báo, chúng ta sẽ trở thành người có trách nhiệm về chính mình.

7. Hiểu biết luật Nghiệp báo cũng giúp chúng ta tránh xa hành vi xâm hại kẻ khác và trở thành người có lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh. Nếu chúng ta làm hại kẻ khác thì chúng ta sẽ nhận chịu các hậu quả đau thương do Nghiệp của chúng ta đã tạo. Vì chúng ta không muốn tự mình làm mình đau khổ nên chúng ta sẽ không làm kẻ khác đau khổ. Như vậy, hiểu biết luật Nghiệp báo giúp chúng ta tránh được những hành vi xâm hại hay gây thương tích cho chúng sinh. Tại sao hiểu biết luật Nghiệp báo giúp chúng ta có lòng bi mẫn đối với chúng sinh khác? Bởi vì chúng ta hiểu biết rằng: khi có lòng bi mẫn đối với chúng sinh khác là chúng ta đã tạo các Nghiệp thiện lành, và các Nghiệp thiện lành này sẽ trả quả tốt đẹp trong tương lai.

8. Nhờ hiểu biết luật Nghiệp báo nên chúng ta có thể giúp cho xã hội này sống an vui hạnh phúc, có tình thương, có hiểu biết, có sự sống chung hài hòa. Còn nhiều lợi ích của sự hiểu biết luật Nghiệp báo nữa. Tôi mong muốn các bạn tự suy nghĩ và cho thêm vào.



CÁC LOẠI NGHIỆP

Sau khi đã tìm hiểu Nghiệp một cách tổng quát, bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu các loại Nghiệp.

Trước tiên, Nghiệp có thể chia làm hai loại: Thiện Nghiệp và Bất Thiện Nghiệp. Một cách phân loại khác là phân loại theo chức năng. Tôi không thể giảng giải ở đây về chi tiết ở các loại Nghiệp khác nhau này. Nếu các bạn muốn biết nhiều chi tiết hơn về các loại Nghiệp này thì các bạn hãy đọc trong Abhidhammatha sangaha (Vi Diệu Pháp Lược Giải).
Nghiệp được chia làm bốn nhóm, mỗi nhóm gồm bốn Nghiệp. Nhóm đầu tiên phân loại theo chức năng. Nhóm thứ hai phân loại theo cách thức cho quả. Nhóm thứ ba phân loại theo thời gian trả quả. Nhóm thứ tư phân loại theo nơi chốn cho quả.


1. Khi phân loại theo chức năng chúng ta có bốn loại Nghiệp.

a. Đầu tiên là Nghiệp Tạo Tác, có nghĩa là Nghiệp tạo ra hậu quả.
b. Thứ hai là Nghiệp Hỗ Trợ. Nghiệp Hỗ Trợ chính nó không tạo ra quả, nhưng Nghiệp này hỗ trợ cho Nghiệp Tạo Tác.
c. Thứ ba là Nghiệp Cản Trở. Nghiệp này, cũng vậy, chính nó không tạo ra quả, nhưng nó làm cản trở cho Nghiệp Tạo Tác.
d. Thứ tư là Nghiệp Hủy Diệt. Nghiệp Hủy Diệt, hủy diệt quả của Nghiệp Tạo Tác. Như vậy tùy theo chức năng của các Nghiệp mà Nghiệp được chia làm bốn. Chẳng hạn Nghiệp tạo tác giúp cho một người sinh ra làm người. Như vậy kết quả của Nghiệp Tạo Tác là một người ra đời. Trong suốt cuộc sống của người này, y hưởng thụ sức khỏe tốt, giàu có, sống lâu, sắc đẹp ...

Những điều mà người này có được là hậu quả của Nghiệp Hỗ Trợ. Nếu người này không mạnh khỏe, nếu người này nghèo, nếu người này không sống lâu thì đó là do Nghiệp Cản Trở phát sinh. Nếu người này chết vì tai nạn hay chết ngay tức khắc bởi một bệnh nào đó thì đó là Nghiệp Hủy Diệt đã phát sinh.
Nghiệp Tạo Tác cho kết quả vào lúc hoài thai cũng như trong suốt đời sống. Và Nghiệp Hỗ Trợ đã hỗ trợ cho Nghiệp Tạo Tác này. Nghiệp Cản Trở đã cản trở Nghiệp Tạo Tác và Nghiệp Hủy Diệt đã hủy diệt quả của Nghiệp Tạo Tác này.


2. Nghiệp cũng được phân chia làm bốn loại theo cách thức mà nó cho quả
.
Đó là bốn loại Nghiệp cho quả liệt kê sau đây: Cực Trọng Nghiệp, Cận Tử Nghiệp, Tập Quán Nghiệp, Bảo Lưu Nghiệp.

a. Loại thứ nhất là Cực Trọng Nghiệp. Cực Trọng Nghiệp nghĩa là Nghiệp có năng lực mạnh mẽ, cho quả vượt trội hơn các Nghiệp khác. Nếu Cực Trọng Nghiệp là Nghiệp thiện thì đó là các tầng thiền, nếu bất Thiện Nghiệp thì đó là năm trọng tội: giết mẹ, giết cha, giết A La Hán, làm Phật bị thương và chia rẽ Tăng. Chấp thủ tà kiến cũng bao gồm trong đó. Chấp thủ tà kiến có nghĩa là cho rằng không có nhân, không có quả v.v...
b. Loại Nghiệp thứ hai là Cận Tử Nghiệp. Cận Tử Nghiệp là Nghiệp mà một người tạo ra ngay trước khi chết. Mặc dầu người này có thể thường xuyên làm các Nghiệp thiện hay Nghiệp ác trong đời sống, nhưng Nghiệp thiện hay ác họ tạo ra ngay trước khi chết có năng lực mạnh mẽ hay ưu tiên để trả quả. Nghĩa là Cận Tử Nghiệp hay Nghiệp làm ngay trước khi chết có năng lực trả quả ưu tiên hơn "Tập Quán Nghiệp" và "Bảo Lưu Nghiệp".
c. Tập Quán Nghiệp: là Nghiệp chúng ta thường xuyên làm hằng ngày theo thói quen hay tập quán. Một người thường tạo cả hai loại Nghiệp ác hay Nghiệp thiện hằng ngày tạo thành thói quen hay tập quán.
d. Bảo Lưu Nghiệp: Là Nghiệp không nằm trong ba loại Nghiệp trên. Nếu không có Cực Trọng Nghiệp, Cận Tử Nghiệp hoặc Tập Quán Nghiệp thì Nghiệp Bảo Lưu có cơ hội trả quả.


3. Nghiệp phân biệt theo thời gian trả quả: Đó là bốn loại Nghiệp cho quả liệt kê sau đây: Nghiệp trả quả tức khắc, Nghiệp trả trong kiếp tới, Nghiệp trả sau kiếp tới cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi, và Nghiệp vô hiệu

a. Nghiệp trả tức khắc còn gọi là Hiện Nghiệp: là Nghiệp trả quả ngay trong kiếp sống này.
b. Nghiệp trả quả tiếp theo: là Nghiệp trả quả trong kiếp tới sau khi ta lìa bỏ kiếp sống hiện tại.
c. Nghiệp vô tận: là Nghiệp trả quả sau kiếp tới cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi.
d. Nghiệp vô hiệu: thật ra không phải là một loại Nghiệp riêng biệt. Nếu Nghiệp tức khắc không thể cho quả trong kiếp sống này thì trở thành vô hiệu. Nếu Nghiệp cho quả trong kiếp sau không đủ điều kiện thuận lợi để trả quả thì trở thành vô hiệu, nhưng Nghiệp vô tận thì không thể vô hiệu được; Nghiệp này tồn tại cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi. Chỉ tới lúc chấm dứt vòng luân hồi Nghiệp này mới chấm dứt. Khi Nghiệp thứ nhất, thứ hai, và thứ ba này không thể cho quả trong thời gian trả quả thì chúng trở thành vô hiệu.Trong bốn loại Nghiệp trên thì Nghiệp vô tận tức Nghiệp trả quả sau kiếp tới cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi là Nghiệp quan trọng nhất đối với chúng ta. Khi Nghiệp trả quả tức khắc và Nghiệp trả qua trong kiếp tới không đủ điều kiện thì chúng trở thành vô hiệu, nhưng Nghiệp vô tận giúp chúng sinh ở trong các cảnh khổ có cơ hội tái sinh làm người và làm trời sẽ theo ta cho đến lúc chấm dứt vòng luân hồi. Tất cả chúng sinh có kho chứa Nghiệp vô tận này, khi có hoàn cảnh hay cơ hội thuận tiện chúng ta sẽ nhận quả của các Nghiệp này.


4. Nghiệp phân biệt theo nơi chốn trả quả.
Đó là bốn loại Nghiệp cho quả liệt kê sau đây: Ác Đạo Bất Thiện Nghiệp, Dục Giới Thiện Nghiệp, Sắc Giới Thiện Nghiệp, Vô Sắc Giới Thiện Nghiệp.

a. Ác Đạo Bất Thiện Nghiệp: là những Nghiệp cho quả trong bốn ác đạo, và cũng cho quả trong dục giới và sắc giới.
b. Dục Giới Thiện Nghiệp: là những Nghiệp thiện cho quả ở dục giới; và cũng cho quả ở sắc giới và vô sắc giới.
c. Sắc Giới Thiện Nghiệp: là những Nghiệp chỉ cho quả ở cõi sắc giới.
d. Vô Sắc Giới Thiện Nghiệp: là những Nghiệp chỉ cho quả ở cõi sắc giới.
Muốn hiểu rõ Nghiệp ở các cõi bạn phải hiểu ba mươi mốt cõi, và phải hiểu mỗi cõi cho quả như thế nào, bạn phải tìm kiếm học hỏi chi tiết về các quả của các Nghiệp này trong sách Vi Diệu Pháp.

Tôi chỉ cho các bạn biết một số căn bản về các loại Nghiệp, đồng thời kích thích óc tò mò, mong muốn tìm hiểu của các bạn để các bạn thích thú trong việc tìm hiểu, học hỏi nhiều hơn. Nếu các bạn muốn tìm hiểu nhiều hơn các bạn nên đọc cuốn A Comprehensive Manual of Abhidhamma (Vi Diệu Pháp Tập Yếu) do Tỳ khưu Bodhi hiệu đính.

Bây giờ chúng ta hãy trở về với việc phân loại các loại Nghiệp một cách thực tiễn hơn. Khi chúng ta hiểu thế nào bất Thiện Nghiệp, thế nào là Thiện Nghiệp thì chúng ta sẽ tránh làm các việc bất thiện, và chúng ta sẽ thực hành các Thiện Nghiệp.

Bất Thiện Nghiệp chia làm mười loại: Ba Nghiệp bất thiện thuộc về thân, bốn Nghiệp bất thiện thuộc về khẩu, và ba Nghiệp bất thiện thuộc về ý.

Ba thân Nghiệp bất thiện gồm: Sát sinh, trộm cắp, và tà hạnh. Sát sinh là sát hại hay chấm dứt mạng sống chúng sinh. Sát hại chúng sinh bao gồm giết người, giết súc vật, và ngay cả những côn trùng bé nhỏ. Những gì gọi là chúng sinh đều không được giết hại. Người giết hại một chúng sinh nào là người ấy tạo Nghiệp ác.
Trộm cắp là lấy của ai vật gì mà không được chủ nhân của vật đó cho mình. Tà hạnh là thông dâm với kẻ khác không phải là vợ hay chồng mình. Ngoài hành vi tà dâm, tà hạnh còn có nghĩa là làm bất cứ hành vi tà vạy nào.

Bốn khẩu Nghiệp bất thiện gồm: Nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời nói dữ, nói lời vô ích.

a. Nói dối: là nói điều không thật. Nói dối chỉ thật sự trở thành Nghiệp bất thiện khi nói dối với chủ tâm làm hại và làm mất sự an toàn của kẻ khác.
b. Nói lời đâm thọc: là nói những lời nói nhằm mục đích gây ra sự chia rẽ người khác.

c. Nói lời nói dữ: là mắng nhiếc chửi rủa, nói những lời cộc cằn thô lỗ.
d. Nói lời vô ích: là nói những lời vô bổ, làm mất thời giờ mà không đem đến lợi ích tinh thần.

Ba ý Nghiệp bất thiện gồm:

a. Tham lam: Mong muốn chiếm đoạt của cải người khác. Đó là khi thấy vật gì thuộc quyền sở hữu của kẻ khác mà khởi tâm ham muốn lấy làm của mình như vậy mới gọi là tham lam. Tham lam không phải chỉ là thích thú, dính mắc vào vật gì của kẻ khác mà là có tà tâm mong muốn chiếm đoạt vật sở hữu của kẻ khác làm của mình.
b. Sân hận: là giận dữ, chán ghét, mong muốn kẻ khác bị hại, bị thương tích, bị chết.
c. Tà kiến: cho rằng không có Nghiệp, không có quả của Nghiệp v.v…Ba hành vi này không phải thực hiện bởi thân hay khẩu, nhưng chỉ là những ý nghĩ trong tâm. Do đó, tham, sân, và tà kiến được gọi là ba hành vi chỉ phát khởi trong tâm.

Trên đây là mười Nghiệp bất thiện. Một khi đã biết đây là những Nghiệp bất thiện thì nên tránh chúng.

Trong mười bất hiện Nghiệp trên, chúng ta không thấy đề cập đến giới uống rượu. Chú giải giải thích là giới uống rượu nằm trong bất Thiện Nghiệp thứ ba, thân bất thiện. Tiếng Pāḷi về giới thứ ba là kāmesu micchācārā. 'Kāmesu' có nghĩa là dục lạc thế gian hay năm dục lạc giác quan (dục lạc về sắc, dục lạc về thinh, dục lạc về hương, dục lạc về vị, dục lạc về xúc, dục lạc về pháp) chứ không phải chỉ là dục lạc nam nữ. Như vậy uống rượu và dùng chất say là một hành vi bất thiện thuộc về dục lạc thế gian, đó là vị trần. Như vậy, uống rượu và dùng chất say nằm trong hành vi bất thiện thuộc về thân, nằm trong giới thứ ba: tà hạnh.


Bây giờ chúng ta nói đến Nghiệp thiện.

Có hai nhóm Thập Thiện Nghiệp thuộc dục giới.

Nhóm thứ nhất chỉ là mười Thiện Nghiệp đối nghịch với mười Nghiệp bất thiện ta đã nói trên. Đó là:

1. Không sát sinh, 2. Không trộm cắp, 3. Không tà hạnh, 4. Không nói dối, 5. Không nói lời đâm thọc, 6. Không nói lời nói dữ, 7. Không nói lời vô ích, 8. Không tham (không có tà tâm mong muốn chiếm đoạt vật sở hữu của kẻ khác làm của mình), 9. Không sân (có từ tâm), 10. Không tà kiến (có chánh kiến) nghĩa là biết nhân biết quả, và biết mọi việc trên thế gian đều tùy thuộc vào một số các việc khác.

Mười Thiện Nghiệp Dục Giới này chỉ là mười Nghiệp đối nghịch với mười Bất Thiện Nghiệp mà thôi.

Nhóm mười Thiện Nghiệp thứ hai là:
1. Bố thí: Giúp đỡ người nghèo khó hay dâng cúng thực phẩm và vật dụng đến chư tăng.
2. Trì giới: Giữ giới luật trong sạch: không sát sinh, trộm cắp, tà hạnh... 3
. Tham thiền: Luyện tâm, Phát triển tinh thần

4. Cung kính: Tôn kính người lớn tuổi, tôn kính người đáng tôn kính, nhường chỗ cho người đáng nhường.
5. Phục vụ: giúp đỡ người khác, làm các công việc cho cộng đồng, làm công quả cho chùa, giúp người khác làm việc thiện.
6. Hồi hướng công đức: Trước hết, đi làm phước rồi hồi hướng hay chia phước lành đến mọi người. Chia phước là giúp mọi người có cơ hội được hưởng phước báu qua hành vi phước thiện của mình. Chia phước không có nghĩa là cho người khác hay tặng hoặc bố thí phước báu của mình cho người khác và mình không còn phước báu nữa. Chia phước báu khiến cho phước mình được gia tăng vì chính hành vi chia phước báu là hành vi phước thiện tạo thành Nghiệp tốt.
7. Tùy hỉ: Hoan hỉ với phước báu của người khác, nghĩa là khi được người khác chia phước báu cho ta thì ta nói: Sādhu, sādhu, sādhu (lành thay, lành thay, lành thay). Có nghĩa là ta hoan hỉ, hạnh phúc với phước báu người khác đã tạo. Khi bạn hoan hỉ với phước báu của người khác thì chính bạn cũng được phước báu. Đó là vì khi bạn hoan hỉ, vui mừng thì sự hoan hỉ, vui mừng này đã lấy phước báu của người khác làm đối tượng. Đây là một thiện tâm. Chú giải nói rằng: Dù cho người làm việc phước thiện có chia phước cho bạn hay không, thì bạn cũng có thể hoan hỉ với việc phước thiện của họ đã làm. Như vậy, nếu được người khác chia phước thì bạn hãy nói: "Sādhu, sādhu, sādhu". Nếu họ không chia phước báu cho bạn, nhưng nếu bạn thấy hay bạn nghe rằng người đó đã làm việc phước thiện thì bạn cũng có thể thực hành việc hoan hỉ phước báu của người khác bằng cách vui mừng hoan hỉ với phước bau này.
8. Nghe pháp: Là nghe giáo pháp của Đức Phật. Việc học các các loại nghệ thuật, điêu khắc, các học thuật chuyên môn để mở mang kiến thức mà không làm hại hay gây thương tổn cho ai cũng bao gồm trong phần nghe pháp.
9. Thuyết pháp: Giảng dạy giáo pháp. Phần này cũng bao gồm cả việc giảng dạy Phật pháp và một vài loại ngành nghề, học thuật không xâm hại hay tổn thương đến kẻ khác và không chống trái những lời dạy của Đức Phật.
10. Có chánh kiến: Có quan kiến đúng đắn, nghĩa là có kiến thức đúng đắn về nhân quả v.v... Quan kiến đúng đắn hay chánh kiến thật ra chỉ là ngược lại với tà kiến. Có quan kiến đúng đắn rất quan trọng, nếu có quan kiến sai lầm thì mọi việc làm của ta đều không phải là Thiện Nghiệp. Chúng ta phải có quan kiến đúng đắn hay chánh kiến về nhân, về quả, và những gì liên quan đến nhân quả.


Ba Thiện Nghiệp đầu tiên: bố thí, trì giới, và tham thiền là ba bước đầu tiên mà người Phật tử phải thực hành.

Bố thí:

Trong mười Ba La Mật hay mười phẩm hạnh cao thượng mà một vị Bồ Tát phải thực hành trọn vẹn thì bố thí là pháp đầu tiên. Bố thí (dāna) ở đây có nghĩa là cho ra, giúp đỡ hay cúng dường... Bố thí (dāna) rất quan trọng vì bố thí giúp cho tâm của chúng ta êm dịu, và mềm dẽo. Bố thí còn tạo cơ hội cho chúng ta loại trừ tham ái, dính mắc. Mỗi khi chúng ta cho ra vật gì, không những ta cho ra vật đó mà còn dứt trừ tâm tham ái, dính mắc vào vật đó nữa. Như vậy khi thực hành hạnh bố thí, ta cũng đồng thời thực hành hạnh dứt bỏ, tham ái dính mắc vào vật ta cho ra.

Trì giới:

còn được gọi là giữ phẩm hạnh đạo đức. Giữ giới là kiểm soát thân khẩu. Khi giữ giới là ta giữ phẩm hạnh trong sạch, ta không để cho thân và khẩu ô nhiểm bởi hành động và lời nói bất thiện.

Là cư sĩ, bạn có thể giữ năm giới hay tám giới như các bạn đang thực hành trong khóa thiền này, nếu bạn muốn thực hành giới luật nhiều hơn bạn có thể giữ mười giới.Tham thiền: giúp cho tâm thanh tịnh, an lạc hay đưa đến những tiến bộ tinh thần cao, khai mở trí tuệ. Bạn có thể hành Thiền Định hay Thiền Minh Sát. Do hành Thiền Định bạn có thể đạt được định tâm cao. Nếu bạn thành công trong việc thực hành một trong bốn mươi đề mục thiền Định bạn có thể thực hành thêm để có thần thông.

Qua hành Thiền Minh Sát bạn sẽ đạt đến chỗ dứt sạch mọi ô nhiểm trong tâm hay đạt cứu cánh Niết Bàn.


Cung kính và phục vụ, Thiện Nghiệp thứ tư và thứ năm: cung kính những người đáng cung kính và phục vụ giúp đỡ mọi người, hai điều này có thể bao gồm trong Thiện Nghiệp thứ hai, giới luật trong sạch, bởi vì khi bạn thực hành giới bạn kiểm soát hành động và lời nói. Cung kính và phục vụ là một biểu hiện của sự kiểm soát thân và khẩu, do đó được bao gồm trong giới luật, Thiện Nghiệp thứ hai.

Hồi hướng chia phước bao gồm trong Thiện Nghiệp thứ nhất, bố thí. Tùy hỉ hay hoan hỉ với phước báu của người khác cũng bao gồm trong bố thí bởi vì liên hệ đến sự bố thí, không phải mình cho ra, nhưng người khác cho ra. Nghe pháp, thuyết pháp, và có quan kiến đúng đắn đều nằm trong Thiện Nghiệp thứ ba là tham thiền. Nghe pháp là một loại phát triển tinh thần. Thuyết pháp cũng thuộc phát triển tinh thần bởi vì bạn đang phát triển tâm mình. Có quan kiến đúng đắn hay có chánh kiến cũng thuộc về phát triển tinh thần.

Như vậy, chúng ta có thể thu gọn mười Thiện Nghiệp còn lại ba Thiện Nghiệp:

Bố thí, trì giới, tham thiền nếu ta gộp yếu tố bốn và năm vào yếu tố thứ hai; sáu và bảy vào yếu tố một; tám, chín và mười vào yếu tố ba.
(1) Bố thí, hồi hướng, tùy hỉ, (2) Trì giới, cung kính, phục vụ, (3) Tham thiền, nghe pháp, thuyết pháp, chánh kiến.

Bây giờ chúng ta đã hiểu Bất Thiện Nghiệp và Thiện Nghiệp, chúng ta có thể theo lời dạy của Đức Phật trong kinh Pháp Cú: "Không làm điều ác nào, làm các hạnh lành, thanh lọc tâm ý‎, đó là lời dạy của chư Phật." Không làm tất cả các điều ác, tiếng pāḷi là "sabbapāpassa". "sabba" là tất cả, và "pāpa" là điều ác, như vậy "sabbapāpassa" có nghĩa là tất cả điều ác. Người ta có thể tranh biện: Nếu bạn nói "không làm tất cả những điều ác", như vậy có nghĩa là "có thể làm ít điều ác". Bởi thế, ở đây ta phải dịch là "không làm điều ác nào" tức là không làm điều bất thiện, không tạo các ác Nghiệp. Sau đó là "hoàn thành những việc thiện" có nghĩa là vun bồi Thiện Nghiệp hay làm những việc thiện; tiếp theo là thanh lọc ‎tâm ý. Trong tâm chúng ta có nhiều phiền não hay ô nhiễm, bởi vậy Đức Phật dạy chúng ta hãy thanh lọc tâm. Câu kệ Pháp cú trên Đức Phật dạy chúng ta tránh xa điều ác, vun bồi hạnh lành, và thanh lọc tâm ý. Chú giải Kinh Pháp Cú giải thích câu đầu của bài kệ này, sabbapāpassa akaraṇaṁ là không làm những hành vi bất thiện, điều này dễ hiểu.

Câu thứ hai, kusalassa upasampadā là làm khởi sinh các hành vi thiện lành, và phát triển những gì cần phải phát triển.

Như vậy, ở đây câu: "vun bồi thiện tâm" hay "hoàn thành những việc thiện" là làm phát sinh Thiện Nghiệp, và tiếp tục, tiếp tục làm phát sinh Thiện Nghiệp, nghĩa là liên tục tạo Thiện Nghiệp. Câu này có nghĩa không phải chỉ làm việc thiện một lần mà phải tiếp tục làm việc thiện nhiều lần cho đến khi Thiện Nghiệp phát triển. Chú giải cũng nói rằng phải làm việc thiện cho đến khi đạt A La Hán đạo (Arahatta Magga) nghĩa là cho đến khi Giác Ngộ. Tôi nghĩ rằng chú giải liên kết điều này với cuộc đời của Đức Phật. Là một hoàng tử, Đức Phật từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia tu hành. Và trong sáu năm Ngài thực hành khổ hạnh trong rừng, cuối cùng Ngài bỏ lối tu khổ hạnh, thực hành trung đạo và thành chánh quả. Từ lúc xuất gia cho đến khi Giác Ngộ Ngài đã thực hành và phát triển Thiện Nghiệp. Thứ ba sacittapariyodapanaṁ (Thanh lọc tâm ‎ý , có nghĩa là làm cho tâm trong sạch, thoát khỏi năm chướng ngại. Thanh lọc tâm khỏi năm chướng ngại (phiền não) là một việc làm quan trọng bởi vì bao lâu vẫn còn chướng ngại trong tâm thì vẫn chưa thể hi vọng Giác Ngộ.            HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.1/5/2013.THICH NU CHAN TANH.MHDT.