Tuesday, 4 February 2014

Tứ Niệm Xứ-bốn nền tảng của chánh niệm


Tỳ Khưu Brahmavamso
 Giới thiệu: Ðại đức Brahmavamso là vị lãnh đạo tinh thần của hội Phật Giáo Tây Úc, và là viện chủ thiền viện Bodhinyana, huyện Serpentine, tiểu bang Tây Úc, Úc châu.
-oOo -
Các vị thiền sư Phật Giáo đã nói rất nhiều về cách hành trì Pháp Tứ Niệm Xứ (Satipatthana), ngoại trừ người tu sĩ nầy. Cho nên, trong bài pháp ngắn hôm nay, tôi cũng xin theo xu hướng nầy để trình bày một vài điều quan sát thực tế về pháp hành thiền đó, vốn là một pháp giảng của Ðức Phật mà có lẽ đã có nhiều ngộ nhận trong hàng thiền sinh Phật Tử.
Các bạn nào đã từng tham gia vào các trung tâm Phật Giáo thì chắc đã nghe nhiều vị thầy tuyên bố rằng Pháp Tứ Niệm Xứ là “một con đường duy nhất” để tiến đến Giác Ngộ. Mặc dù lời tuyên bố nầy có vẻ khẳng định và hấp dẫn, nhưng thật ra, đó không phải là lời phiên dịch chính xác của kinh điển nguyên thủy và cũng không nhất quán với những lời Phật dạy trong các bài kinh khác. Cụm từ Pali “Ekayana Magga” trong bài kinh số 10 (Kinh Tứ Niệm Xứ) trong Trung Bộ Kinh thường được dịch là “con đường duy nhất” cũng được dùng trong bài kinh số 12 (Ðại Kinh Sư Tử Hống) và có ý nghĩa rõ ràng là “một con đường với một mục đích duy nhất”. Có nhiều con đường khác nhau nhưng cùng chung một mục đích. Thật ra, “con đường duy nhất” đã được Ðức Thế Tôn đề cập đến, không phải là Tứ Niệm Xứ, mà là Con Ðường Tám Chánh (Bát Chánh Ðạo), như trong Kinh Pháp Cú:
“Trong tất cả các con đường, Con Ðường Tám Chánh là thù thắng nhất (…)
Ðây là con đường duy nhất, không có con đường nào khác, để đi đến tri kiến thanh tịnh”(…)
(Pháp Cú, 273-274, giản lược)
Như thế, “con đường duy nhất” đến Giác Ngộ, như mọi Phật Tử đều đã biết rõ, là Bát Chánh Ðạo. Bốn nền tảng của Chánh Niệm (Tứ Niệm Xứ) chỉ là một phần của con đường đó. Ðó là chi phần thứ 7 (Chánh Niệm). Ngoài ra, còn có Chánh Ðịnh là chi thứ 8, và cũng còn có Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Tinh Tấn, và 3 chi của Chánh Giới (Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng). Mỗi chi phần nầy đều cần thiết như nhau, để đạt Giác Ngộ. Nếu có chi phần nào mà không cần thiết thì ắt hẳn Ðức Phật đã dạy về Ðạo Bảy Chánh, Ðạo Sáu Chánh, v.v. Thế nhưng, trong kinh điển, lúc nào Ngài cũng luôn luôn đề cập đến Ðạo Tám Chánh. Cho nên, trong công tác tu học và hành trì của các bạn, các bạn cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng tất cả tám chi phần của Bát Chánh Ðạo cần phải được tu dưỡng đồng đều và trọn vẹn, như là “một con đường duy nhất” .
Hành trì pháp Tứ Niệm Xứ như lời Phật dạy là một công phu rất cao cấp. Cao cấp đến nỗi mà Ðức Thế Tôn dạy rằng nếu người nào có thể hành trì nghiêm túc bốn niệm xứ đó theo phương cách mà Ngài đã đưa ra thì chỉ trong bảy ngày, người đó có thể đạt Giác Ngộ hay đắc quả Bất Lai (Kinh Tứ Niệm Xứ). Nhiều thiền sinh đã từng tham dự các khóa thiền 7 ngày, 10 ngày, hay nhiều hơn mà vẫn chưa đạt được một kết quả cao quý nào như Ðức Phật đã hứa hẹn. Tại sao thế ? Tôi nghĩ rằng đó là vì họ đã không thực hành nghiêm túc đúng theo những lời Phật dạy.
Nếu bạn muốn thực hành pháp Tứ Niệm Xứ theo phương cách mà Ðức Phật nói có kết quả nhanh chóng tiến đến Giác Ngộ, thì có nhiều việc mà bạn cần phải hoàn tất trước khi bạn bắt đầu quán niệm. Các công việc sửa soạn nầy có thể tóm tắt như sau: Bạn cần phải hành trì trọn vẹn bảy chi phần kia của Bát Chánh Ðạo. Hay nói một cách khác, như Ðức Phật đã giảng trong Tăng Chi Bộ (“Chín Pháp – Phẩm Niệm Xứ”, Kinh số 63 và 64), bạn phải tuân giữ chặt chẻ 5 Giới luật, buông bỏ 5 Triền cái (tham lam, hận sầu, hôn trầm, trạo hối, nghi ngờ), rồi mới hành thiền Quán Niệm.
Các điều kiện tiên quyết tối quan trọng nầy thật ra đã được Ðức Phật giảng trong hai bài kinh về Tứ Niệm Xứ (trong Trung Bộ và Trường Bộ) trong câu Pali: “Loke Abhijjha-Domanassam”. Câu nầy thường được dịch là: “sau khi nhiếp phục tham ưu trên đời” hay tương tự như thế. Lời dịch như vậy thường không được các thiền sinh hiểu rõ và họ xem thường lời dạy đó của Ðức Phật, và vì thế, họ đã không đạt được kết quả nào cả! Vào thời Ðức Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, và cư sĩ ắt hẳn đã hiểu ngay câu nói đó có nghĩa là “sau khi đã buông bỏ năm Triền cái”! Các bản chú giải chính thống về hai bài kinh Tứ Niệm Xứ đều giải thích rõ ràng rằng cụm từ Abhijjha-Domanassam là dùng để chỉ năm Triền cái. Trong các bài kinh giảng khác của Ðức Phật, Abhijjha là đồng nghĩa với Triền cái thứ nhất, Domanassam là đồng nghĩa với Triền cái thứ nhì, và nếu dùng chung lại với nhau — trong thành ngữ Pali — đó là cách viết tắt cho nhóm năm Triền cái. Ðiều nầy có nghĩa là cả năm Triền cái phải được buông bỏ trước khi bắt đầu hành trì pháp Quán Niệm. Cho nên, theo ý kiến của tôi, chính vì các thiền sinh cố hành thiền Quán Niệm trong khi vẫn còn vướng mắc vào các Triền cái mà họ đã không đạt được kết quả tốt hay lâu dài.
Chức năng của việc thấu đạt các tầng thiền (Jhana) — chi phần Chánh Ðịnh của Bát Chánh Ðạo — là để buông bỏ tất cả năm Triền cái để giúp triển khai tuệ Minh sát. Trong bài kinh số 68 của Trung Bộ (Kinh Nalakapana), Ðức Phật dạy rằng khi hành giả chưa đạt các tầng thiền Jhana, năm Triền cái cùng với bất lạc và giải đãi sẽ xâm chiếm tâm và trú tại đó. Chỉ khi nào hành giả đạt vào các tầng thiền thì năm Triền cái cùng với bất lạc và giải đãi mới không xâm chiếm tâm và không trú tại đó. Ðức Phật đã dạy rõ ràng như thế.
Thiền sinh nào đã trực nghiệm được các tầng thiền mạnh mẽ nầy thì ắt đã biết được, qua kinh nghiệm bản thân, bản chất thật sự của tâm sau khi các Triền cái đã buông bỏ. Thiền sinh nào chưa biết các tầng thiền thì chưa hiểu rõ các dạng vi tế của các Triền cái. Họ tưởng rằng các Triền cái đã buông bỏ, nhưng thật ra, họ đã không nhận thức được chúng, và vì thế, đã không đạt kết quả tốt trong khi hành thiền. Do đó mà pháp hành Thiền Vắng Lặng (Samatha) để nuôi dưỡng các tầng thiền Jhana là một phần của pháp Quán Niệm, và vì thế nếu cho rằng pháp Quán Niệm (Satipatthana) là một pháp “Thiền Minh Sát thuần túy” (Vipassana) thì điều nầy không được chính xác cho lắm. Vị thầy của tôi, ngài Ajahn Chah, đã nói đi nói lại nhiều lần rằng Samatha và Vipassana — Vắng Lặng và Minh Sát; Chỉ và Quán — phải đi đôi với nhau, không thể tách rời được, như thể hai mặt của một đồng tiền.
Sau khi đã kiên trì hoàn tất các công tác sửa soạn cần thiết, thiền sinh giờ đây có thể an trú chánh niệm vào một trong bốn đề mục: thân thể của mình, các cảm thọ đau đớn hay hỷ lạc, tâm thức, và đối tượng của tâm. Khi các Triền cái đã tàn lụi và thiền sinh có thể duy trì định lực vững mạnh để chú niệm vào các đề mục nầy, thì lúc đó thiền sinh mới có thể quán chiếu được phần sâu thẳm trong tâm thức, sâu hơn cả các nhận thức thông thường, về tính chất vô thường của cái gọi là Tự Ngã mà chúng ta thường bám víu vào đó. Chúng ta thường cho rằng thân thể nầy là tôi, là của tôi, rằng các cảm thọ sướng hay khổ là có liên quan với cái tôi, rằng cái tâm đang quán sát chính là linh hồn của tôi, rằng các đối tượng của tâm như là ý nghĩ và hành thức (cái “chọn lựa”) là Tự Ngã, là tôi, là của tôi. Mục đích của Tứ Niệm Xứ là để hướng dẫn thiền sinh phải làm gì sau khi đã thoát ra các tầng thiền, để khám phá ra cái ảo tưởng đã được ngụy trang khéo léo của cái gọi là Tự Ngã, và từ đó thấy được điều mà Ðức Phật đã khám phá, đó là Chân Lý của Vô Ngã.
Ðây không phải là điều dễ làm, không phải bất cứ người nào cũng làm được trong thời gian ngắn, nhưng đó là điều khả thi, có thể hoàn tất được trong bảy ngày. Nhưng với điều kiện là thiền sinh phải hành trì trọn vẹn và nghiêm chỉnh theo các lời Phật dạy mà không chạy theo một ngõ tắt nào khác.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.4/2/2014.TAM THANH.BACH LIEN HOA.
Nỗi đau mà bạn nói khi bạn chứng kiến sự khổ đau của người khác là cái mà chúng tôi cho rằng khi chúng ta nói về tâm từ (cảm nhận nỗi đau của người khác). Đây là một cảm giác có tính trung lập bởi vì sự liên đới vốn có của tất cả vạn loại chúng sanh. Thế giới sẽ rất kinh hoàng nếu chúng ta không có khả năng yêu thương.
Cũng giống như Đức Phật, bạn cũng đã từng loay hoay trong câu hỏi này khi bạn còn rất trẻ. Là một đứa trẻ, Ngài đi xem lễ hạ điền vào mùa xuân để chuẩn bị cho việc trồng trọt và trong suốt buỗi lễ đầy màu sắc đó, cha Ngài đã cày lát cày đầu tiên và chàng Siddhartha trẻ tuổi đó đã nhận diện được rằng lát cày đã cắt đứt xuống lòng đất - nơi muôn loài sâu bọ và côn trùng ẩn náu - để phơi bày chúng ra cho chim chóc đến mổ ăn.
Thậm chí ngày nay, khi chúng ta phát nguyện không giết hại sinh vật, chúng ta phát hiện ra rằng mình thực sự cũng chẳng thể giữ trọn vẹn được giới thứ nhất là cấm sát sinh. Chúng ta hoặc là phải nhịn đói đến chết, hay phải ăn sinh vật để mà tồn tại thôi. Thậm chí cho dù chúng ta là những người ăn chay rất kiêng cữ, đời sống của tất cả chúng sanh chỉ có thể được tồn tại bởi thức ăn của những loài đã có sự sống.
Việc quan trọn chúng ta phải làm là duy trì ý thức liên đới với muôn loài và tiếp tục phát triển những tâm niệm thiện lành như Từ, Bi, Hỷ và Xả. Làm thế nào để chúng ta thật sự sống đời sống quý báu đã được ban tặng cho ta là điều quan trọng nhất. Mặc dù chúng ta có thể tha thiết mong muốn dập tắt tất cả nỗi đau trên cuộc đời này, như đã từng có những người truớc ta đã ước nguyện, một cách tốt nhất chúng ta có thể làm là đừng gây thêm nỗi đau cho thế giới này nữa. Nếu chúng ta có sự phán xét và giận dữ đối với thực trạng khổ đau thì điều đó chỉ làm tăng thêm sự đau khổ mà thôi.
Niềm cảm hứng gần đây nhất của tôi để làm sao sống an lành được dựa trên câu nói của Ngài Dalai Lama: “Mỗi ngày, khi bạn vừa thức dạy, hãy suy nghĩ rằng: hôm nay tôi may mắn được thức giấc, tôi vẫn còn sống. Tôi có một đời sống thật quý báu. Tôi sẽ không hoang phí nó. Tôi sẽ vận dụng toàn bộ những năng lượng của mình để rèn luyện tự thân mở rộng cõi lòng của tôi đến vạn loại và làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh.”HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.4/2/2014.TAM THANH.BACH LIEN HOA.
Theo quan điểm của Đại Thừa Phật giáo, phát khởi tu tập Bồ Đề tâm là một điều kiện tiên quyết để học hạnh Bồ Tát, dẫn đến quả vị Phật. Nếu vị nào không sinh khởi tâm này thì sẽ không thể hoàn thành được quả vị Phật thừa. Luận bàn và giải thích về Tâm Bồ Đề được ghi chép lại rất nhiều trong hệ thống kinh điển Đại thừa. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ dựa vào “ Thập Trụ Tỳ Bà Sa luận” cũng thường được gọi tắt là “Thập trụ luận” của Bồ Tát Long Thọ, để làm y cứ luận bàn cho vấn đề trên.
 Y cứ vào luận điển, khi luận bàn về những nguyên nhân làm mất Tâm Bồ Đề, Long Thọ luận sư đã phân tích thành năm nhóm, trong mỗi nhóm có bốn pháp, như vậy tổng cộng cả thảy là hai mươi pháp.[1] Nhưng ở đây tác giả chỉ phân tích nhóm thứ 1 trong bổn luận. Luận chủ ghi như sau:
“Hỏi: những pháp nào làm  mất tâm Bồ Đề? Đáp: 1. Không kính trọng pháp, 2. Khởi tâm kiêu mạn, 3. Vọng ngữ không thật, 4. không kính thiện tri thức. Như có bốn pháp này sinh khởi, nếu khi đời này mất đi, hoặc đến đời vị lai sẽ làm mất tâm Bồ Đề, không tự biết mình là Bồ Tát, cũng không thể phát nguyện làm Bồ Tát lại được, hay khi Bồ Tát hành pháp, những pháp hành ấy không được hiển lộ.”[2]
Từ dẫn chứng của luận văn, chúng ta không khó để nhận ra rằng, nếu Bồ Tát sinh khởi bốn tâm niệm như trên thì mất hạt giống Bồ Đề, không những trong đời này và đời sau nữa, hoặc thậm chí không thể tu tập thành đạt quả vị Phật thừa. Để làm rõ ý nghĩa của bốn pháp này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu.
Thứ 1. Không kính trọng pháp:
Pháp là những điều chư Phật tuyên thuyết, là những lời bậc giác ngộ sau khi chứng đạo, dùng để giảng dạy, là phương pháp tu tập để mỗi hành giả nương vào đó tu tập, dẫn đến chứng ngộ giải thoát. Đối với giáo pháp này không cung kính cúng dường, không tôn trọng, không tán thán, không sanh tâm nghĩ rằng đây là pháp hy hữu, là pháp khó gặp, là pháp quý báu, là pháp làm cho chúng ta mãn nguyện. Như vậy chính là ý nghĩa của không kính trọng pháp. Hay một cách tư duy khác, giáo pháp là chánh pháp, là những điều minh triết trong đời sống, là chân lý sống của cuộc đời, có tác dụng hướng dẫn chúng ta làm những điều mang lại hạnh phúc cho ta, và những người xung quanh, nhưng nếu chúng ta không cung kính đối với pháp này thì cũng đồng nghĩa với chúng ta đang bỏ mất con đường sống đẹp của đời mình.
Thứ 2. Khởi tâm kiêu mạn
Tâm kiêu mạn là tâm tự cao của mình, đây là một loại bịnh mà chúng ta luôn gặp phải trong quá trình tu tập. Thường khi chúng ta tinh tấn tu học, đọc sách nghe kinh nhiều hay làm các việc phước thiện thường sinh tâm kiêu mạn khinh chê người khác không tu, không thực hành Phật pháp, không làm các công đức, hoặc giả khinh chê pháp môn tu học này không tốt, không thể chứng đạt giải thoát, thiết nghĩ đây cũng biểu hiên của tâm kiêu mạn. Cho đến tâm đai kiêu mạn như: chưa đạt quả vị mà nói đã đạt, đối với các pháp môn tu tập, chưa chứng mà tự cho là chứng. Như vậy là tâm kiêu mạn. Nếu hành giả nào sinh khởi tâm kiêu mạn, thì sẽ trở ngại con đường đi đến Phật quả. Phải chăng chính vì lý do này mà trong “ Kinh Bát Nhã”  Đức Thế Tôn đã khuyến dạy như sau: “Thiện Hiện! Ông nên biết do phát sanh kiêu mạn, khinh chê hủy báng các Bồ-tát khác nên Đại Bồ-tát đó xa lìa quả vị Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề.[3] Một vị Bồ Tát đã chế ngự được phiền não, nhưng chỉ cần sinh tâm kiêu mạn khinh chê Bồ Tát đồng học còn xa lìa quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác, hà huống chúng ta có gì mà sinh tâm kiêu mạn để rồi đánh mất hạt giống Bồ Đề trong ta?
Thứ 3. Vọng ngữ không thật
Lời nói không thật là lời nói mang đến sự đau khổ cho mình và người khác, lời nói ấy sẽ làm trở ngại cho sự kết nối giữa ta với những người xung quanh, lời nói ấy làm ngăn che tiến trình tháo gỡ những bế tắc trong đời sống thông qua ngôn ngữ biểu đạt. Những ai sống và làm bạn với lời nói không thật, thì đây sẽ là nhân tố phá vỡ đời sống an lạc của tự thân, gia đình, bạn bè… Cũng chính lời nói không chân chánh này đã làm trở ngại con đường tu tập của chúng ta, làm mất đi hạt giống Bồ Đề trong ta không có cơ hội sinh khởi và thăng hoa. Chính vì thế chúng ta phải cố gắng thực tập lời nói chân chính để chúng ta có thể thiết lập đời sống an lạc, đời sống hạnh phúc, đời sống hướng thượng. Âu, đây cũng chính là chất liệu để chúng ta tưới tẩm và làm tươi tốt hạt giống Bồ Đề trong ta từ đời sống này cho đến nhiều đời sống kế tiếp.
Thứ 4. Không kính thiện tri thức
Trong tiến trình tu học, chúng ta phải luôn trân quý và kính trọng thiện tri thức, bởi thiện tri thức là người thầy hướng dẫn mình, là người giúp chúng ta tháo gỡ những chướng duyên trên con đường tìm về bến giác, là người hướng dẫn chúng ta tìm ra bảo thành. Chúng ta cũng phải luôn ý thức rằng, nếu không có thiện tri thức hướng đạo thì chúng ta khó tìm ra được cửa ngõ của giải thoát. Điều này cũng được Đức Phật và các vị luận sư giảng dạy trong thánh điển của mình. Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết trong “ Kinh Tăng Nhất A Hàm” như sau : “Ta cũng do thiện tri thức mà thành Vô thượng Chánh chơn Đẳng chánh giác. Do thành đạo quả, độ thoát chúng sanh không thể kể hết, thảy đều thóat sinh, lão, bệnh, tử.” [4]  tương đương với “Tăng Nhất A Hàm” trong “Biệt Dịch Tạp A Hàm” Thế Tôn cũng đã tuyên bố tương tự rằng: “Tôi do thiện tri thức mà thoát ly sanh tử.” [5] Ngoài ra, Bồ Tát Mã Minh đã đứng ở góc độ của nhân duyên pháp mà nhận định rằng: “Tuy có định lực của chánh nhân huân tập, nhưng nếu không gặp được Chư Phật, Bồ Tát thiện tri thức làm trợ duyên thì tự mình đoạn trừ phiền não chứng nhập Niết Bàn, điều này không có được.” [6] Từ dẫn chứng của kinh văn và luận điển chúng ta có thể nhận ra rằng, trong quá trình tu học thân cận thiện tri thức là một trong những điều kiện để đi vào Phật Đạo, đây cũng là pháp hành khiến cho Bồ Đề tâm không thối chuyển trong đời này và mãi về sau.
Con đường hành pháp của Bồ Tát đạo phải được xây dựng trên chất liệu của Bồ Đề tâm, nhưng để có được tâm này kiên cố không bị thối thất, chúng ta phải luôn lìa xa bốn pháp, thứ nhất phải xa lìa tâm không kính trọng pháp, trái lại nên trân quý chánh pháp. Thứ hai, xa lìa tâm cống cao ngã mạn, bởi đây chính là trở ngại cho con đường đi đến Phật đạo, ngoài việc xa lìa tâm này trái lại chúng ta phải thực hành tâm khiêm cung. Thứ ba, xa lìa lời nói vọng ngữ không thật, mà trái lại cần phải thực tập với lời nói chân thành, lời nói như thật. Thứ tư, Xa lìa tâm nhiễm ô không kính trong thiện tri thức, bởi tâm này sẽ là bức tường thành ngăn che chúng ta thể nhập vào dòng thánh,vì thế chúng ta cần phải kính trọng thiện tri thức, chính nhờ thiện tri thức mà chúng ta có thể vào được trong thành trì của giải thoát.
Ước mơ muôn thuở của đời sống con người là hạnh phúc, nhưng để có được hạnh phúc thì chúng ta hãy thực tập kính trọng chân lý sống trong đời, hãy cung kính lắng nghe diệu pháp, tuyên dương chánh pháp để mọi người cùng đến để thấy, để thực hành và cùng nhau đón nhận hoa trái của hạnh phúc. Hãy cùng nhau học tập hạnh khiêm cung, để người người có thể dễ dàng chia sẽ hương vị giải thoát cho nhau, cùng nắm hưởng mật ngọt của đời sống này. Hãy dùng lời nói chân thật để chúng ta được sống trong bình an, thấy nhau trong tình người chân thật. Hãy cung kính trân quý thiện tri thức, bởi chính thiện tri thức là trợ duyên cho chúng ta nhận chân lẽ phải, biết xa lìa bóng tối đau khổ của nhân sinh. Hãy thực tập bốn pháp này để cùng nhau xây đắp Bồ Đề tâm, từ đó đi đến bến bờ của giải thoát.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.4/2/2014.TAM THANH.BACH LIEN HOA.
Phật tử chúng ta thường xuyên đến chùa lễ Phật, tụng kinh… và cũng thường được quý sư, quý thầy, quý sư cô nhắc nhở con cố gắng tu học nhé. Cố gắng thì có cố gắng thật, nhưng để hiểu chữ tu một cách thấu đáo thì không phải đơn giản, hay sâu xa hơn hiểu để ứng dụng vào đời sống thì khó gấp bội. Người viết cũng đã từng rơi vào hoàn cảnh đó, nên nay cố gắng y cứ vào đôi điều giảng dạy của Thế Tôn và các vị Luận sư được ghi chép lại trong kinh văn cũng như luận tạng, lạm bàn một vài ý nghĩa về chữ “Tu” trong Phật Giáo, để chúng ta cùng nhau suy tư về ý nghĩa này.
Thông thường chúng ta thường hiểu ý nghĩa chữ “Tu” là sửa, tức là chúng ta sửa đổi những hành vi sai lầm của mình như: sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, hút chích, đánh đập lẫn nhau…với những thói xấu này, chúng ta tu tập để trở thành con người không có sát sanh mà trái lại còn có tâm từ bi, không trộm cướp mà còn thực hành hạnh Bố thí, không tà dâm, mà còn muốn đem hạnh phúc cho người khác… với ý nghĩa này nên chúng ta gọi là “Tu” là “Sửa”.
Chữ “Tu” cũng có ý nghĩa là “ngăn che”, “đoạn trừ” như trong “Kinh Đại Bát Niết Bàn” quyển thứ 8 đã luận giải rằng: “Ngăn che là nghĩa của chữ tu, do điều phục chúng sanh nên cũng gọi là tu.” [1] Ở đây chúng ta thấy được rằng, nếu chúng ta tu tập tức là phải biết ngăn ngừa không cho những ác pháp đã sinh khởi có cơ hội sinh khởi, không cho những ác pháp chưa sinh khởi được sinh khởi. Đây là ý nghĩa của “tu”. Ngoài ra, chúng ta cũng phải nhận chân được đâu là những bất thiện pháp làm cho phiền não bừng cháy thiêu đốt chúng ta, đâu là thiện pháp làm cho công đức tăng trưởng. Nếu nhận chân được như vậy trên con đường tu tập thì sẽ dễ thành tựu đạo nghiệp giải thoát. Với ý nghĩa này chúng ta có thể liên tưởng đến một bài kinh mà Thế Tôn đã dạy dỗ các vị học trò của mình hãy nhận rõ phiền não, chuyển hóa phiền não để đời sống được an lành. Đức Thế Tôn đã hỏi các vị đệ tử:
Nếu trong thất của các ông có ba con rắn độc chui vào, các ông ngủ yên được không?
Đệ tử thưa: Bạch Thế Tôn, chúng con ngủ không yên.
Phật hỏi: Làm sao các ông ngủ mới yên?
Các đệ tử thưa: Muốn ngủ yên chúng con phải đuổi ba con rắn độc ra khỏi thất.
Qua lời đối thoại này, chúng ta hiểu hơn rằng, người tu tập Phật pháp, tức là người phải luôn ý thức về sự nguy hiểm của phiền não, phải chặn đứng con ma phiền não, đừng để phiền não nhiễu loạn đời sống của chúng ta. Nói như vậy, chúng ta cũng ngầm hiểu với nhau rằng người tu giống như một chiến sỹ, phải luôn đem thanh kiếm tuệ giác canh giữ và chặn đứng những bóng dáng của phiền não. Có như vậy mới có được đời sống an lành và hạnh phúc. Đây cũng chính là ý nghĩa chữ “ Tu” mà chúng ta học được từ lời dạy của Thánh nhân.
Ngoài ra, trong “Đại Tỳ Bà Sa Luận” tác giả của bộ luận nổi tiếng này, chư vị thánh giả A La Hán đã nêu lên nội hàm của chữ “Tu” thông qua ba tầng nghĩa:1.Huân phát, 2. Học tập, 3.Minh tịnh. [2] Với ba lớp nghĩa này chúng ta hiểu rằng, Tu là phải huân tập chủng tử thiện và phát huy hạt giống thiện trong từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây và trong từng sát na sinh diệt. Có nghĩa là mỗi ngày chúng ta thông qua việc thực tập thiền định, niệm Phật, bái sám, tụng kinh, làm việc phước thiện… để những hạt giống thánh thiện này được gieo trồng vào tâm thức của chúng ta, và hạt giống ấy sẽ được sinh khởi khi nhân duyên chín mùi. Phải chăng đây là ý nghĩa “chủng tử và hiện hành” trong tư tưởng của Duy thức chăng? Với tầng nghĩa thứ hai là học tập, ở đây chúng ta thấy nhau một cách rất rõ ràng, tu là phải học và thực tập, tức là chúng ta hãy dựa vào những giáo pháp, những lời dạy của thánh nhân, thông qua những lời dạy này chúng ta thực hành, chuyển hóa phiền não, thành Bồ Đề. Đây mới đích thực hàm nghĩa chữ “Tu” mà trong Phật Giáo thường luận bàn. Tầng nghĩa thứ ba là minh tịnh, tức là mỗi hành giả tu học Phật pháp, phải tinh cần tu học, luôn trao dồi Giới thể trang nghiêm, Định tâm kiên cố, Trí Tuệ siêu việt để dập tắt mọi phiền não đanh vây thân tâm chúng ta, xô ngả tất cả mọi ngã chấp làm cho thân tâm khổ đau, viễn ly mọi ái nhiễm ràng buột… để chân tâm thanh tịnh, chân như Phật tánh được hiển lộ. Đây chính là nội hàm của hai chữ “Minh tịnh” trong ý nghĩa chữ “tu”. Điều này cũng có thể liên hệ với Kinh văn Nguyên Thủy, thông qua “Tăng Chi Bộ Kinh” mà đức Thế Tôn đã giảng dạy rằng:
Này các Tỷ kheo, có những tạp chất xen lẫn trong vàng như bụi, cát, đá, sạn; người thợ lọc vàng đem vàng đổ vào trong cái máng, rồi dội nước vào, dạu qua dạu lại, rửa đi rửa lại. Làm như vậy xong, lúc bấy giờ vàng còn lại các tạp chất nhỏ hơn, như cát đá sạn mịn, rồi người thợ lọc vàng rửa đi rửa lại thêm nữa. Bây giờ, vàng còn dính chút ít cát mịn và bụi đen, rồi người thợ lọc vàng rửa lần cuối cho hoàn toàn hết các tạp chất, chỉ còn lại vàng khoáng.
Rồi người thợ vàng bỏ thỏi vàng ấy vào trong cái lò, thụt ống bễ, thụt nhiều lần cho đến khi vàng bắt đầu chảy, nhưng không chảy ra khỏi miệng lò. Thế rồi, người ấy tiếp tục thụt ống bễ, nhưng vàng ấy chưa đạt được tinh chất, anh ta lại tiếp tục thụt ống bễ cho đến khi miếng vàng trở nên nhu nhuyến, chói sáng, không bị bể vụn, mềm dẻo dễ sử dụng. Giờ đây, nếu muốn làm thành kiềng vàng, hoa tai, vòng xuyến hay chiếc nhẫn, người thợ kim hoàn có thể dùng thỏi vàng ấy chế tạo những vật trang điểm mà mình mong muốn.
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, khi tu tập tăng thượng tâm, nếu các kiết sử thô tạp như thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành còn tồn tại, Tỷ kheo phải nỗ lực tư duy, tìm cách loại bỏ, gột sạch, dứt tuyệt, không cho sinh khởi trở lại. Khi làm như vậy xong, Tỷ kheo tiếp tục tu tập tăng thượng tâm; nếu các kiết sử bậc trung như dục tầm, sân tầm và hại tầm còn tồn tại, phải nỗ lực nhiều hơn nữa loại bỏ, dứt tuyệt, không cho chúng sinh khởi trở lại. Khi làm như vậy hoàn tất, Tỷ kheo lại tiếp tục tu tập tăng thượng tâm, nếu thấy các kiết sử vi tế như ý tưởng về gia tộc, về quốc độ, về danh dự còn tồn tại, phải tiếp tục nỗ lực diệt trì chúng, không cho chúng sinh khởi. Khi tâm đã nhu nhuyến dễ sử dụng, nếu muốn đạt được các pháp thần thông, như thần túc thông, thiên nhĩ thông v.v... Tỷ kheo có khả năng thành tựu các pháp thần thông ấy”. (Kinh Tăng Chi Bộ I, chương 3 pháp, phẩm Hạt muối, kẻ lọc vàng, tr.459-61).
Như vậy, chúng ta thấy xuyên suốt trong quá trình giảng dạy của Thế Tôn cũng như luận giải của các vị Luận Sư, là tương quan và đồng nhất về hàm nghĩa chữ tu. Ngoài ra, luận giải về tầng nghĩa này, chúng ta thấy được rằng tư tưởng này, cũng được luận bàn rải rác trong kinh văn Đại thừa, với tư tưởng mỗi chúng sanh vốn dĩ đều có Phật tánh, tự tánh thanh tịnh, đều có viên minh châu sáng tỏ, nhưng vì mây mù phiền não phủ kín, nên mặt trời tuệ giác thanh tịnh, mặt trời giác ngộ chưa được bừng sáng. Để mặt trời tuệ giác bừng sáng, chân như Phật tánh hiển lộ, chúng ta bắt buộc phải đi theo con đường tu tập chuyển hóa, xóa tan đi những mây đen của phiền não, thì tuyệt nhiên ánh sáng tuệ giác trực chiếu.
Từ một vài dẫn chứng của kinh văn và luận giải, chúng ta có thể hiểu chữ “Tu” trong Phật giáo: 1. “Sửa đổi” sửa những thói hư, tật xấu, thành những đức tánh tốt đẹp. Những giới pháp bất thiện thành những giới pháp thánh thiện. 2. “Ngăn ngừa, Đoạn tận” tức là mỗi hành giả tu tập phải luôn ngăn ngừa và đoạn tận những phiền não làm cho chúng ta khổ đau và điên cuồng như tham, sân, si … 3. “Huân tập và phát huy thiện pháp” nghĩa là chúng ta phải gieo trồng hạt giống thiện pháp, và làm tăng trưởng hạt giống thiện pháp trong bất cứ mọi lúc, mọi nơi. 4. “Học tập và hành pháp” mỗi hành giả tu học Phật pháp, phải dựa vào những giáo pháp của Chư Phật đã giảng dạy, từ những giáo pháp ấy, tiến lên thực hành pháp bằng trãi nghiệm của tự thân, để thể nhập vào giáo pháp bằng kết quả tu chứng của tự thân. Tự thân chúng ta vốn dĩ thanh tịnh, nhưng bị mây đen phiền não che kín và đanh vây, nên mặt trời tuệ giác chưa hiển lộ được, do đó muốn mặt trời trí tuệ ló dạng, chân như thật tánh hiển lộ, không gì khác là phải tu tập bằng chất liệu của Giới học, Định học và Tuệ học thì mặt trời giác ngộ sẽ hiển bày ngay trong đời sống này. Đây cũng chính là ý nghĩa thứ 5 trong bài viết trình bày.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.4/2/2014.TAM THANH.BACH LIEN HOA.

Sunday, 2 February 2014

Trong Phật giáo có vô lượng pháp môn, giáo lý của Phật đà ví như màn lưới của Phạm Thiên bao trùm hết khắp cả chúng sinh, nhưng sở dĩ có người cảm nhận và không cảm nhận, có người thuận và không thuận đó là đều do biệt nghiệp và nhân duyên riêng biệt của từng mỗi chúng sinh. Phật pháp không chỉ dành riêng cho loài người, mà bao trùm hết tất cả muôn loại chúng sinh. Chúng ta thấy đó, trong Kinh mỗi khi Phật thuyết Pháp có vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng sinh, nào là Bồ tát, Duyên giác, Thanh Văn, bát bộ chúng, quỷ, thần, Dạ Xoa...đủ mọi hạng người.
        Mỗi loại chúng sinh trong Chín Pháp giới tùy theo căn cơ và hiểu biết của mình để nhận hiểu. Đức Phật chỉ dùng có một loại âm thanh mà có thể làm cho mỗi loại chúng sinh trong chín Pháp giới đều có thể hiểu tùy theo căn cơ ở bản thân họ.
        Phật thuyết pháp chỉ có một vị đó chính là vị giải thoát, nhưng mỗi chúng sinh lại hiểu hoàn toàn khác nhau theo từng chủng loại, sáng hay tối của mỗi người. Do đó, nếu có người hiểu nhiều, hiểu ít hay không hiểu đều là ở nghiệp nhân chiêu cảm, chớ không phải do đức Phật thương người này bỏ người kia. Đức Phật đà, trên sự bình đẳng thuyết ra một nhất thiết pháp cũng chỉ muốn nhổ tận gốc sinh tử của chúng sinh, khiến họ phát thiện làm lành và sớm giác ngộ, giải thoát qua âm thanh nhất thiết pháp để thành tựu.
        Ngoài chư Bồ Tát, Duyên Giác và Thanh Văn, còn lại sáu pháp giới kia đều là chúng sinh lăn lộn trong sáu nẻo luân hồi. Đầy đủ mọi thứ tà kiến, sự sống an lạc hay không an lạc đều do nghiệp chiêu cảm ra, nặng hay ít mà thôi. Do đó, đức Phật đã dùng mọi phương tiện để làm cho họ phát khởi lòng tin đối với chánh kiến qua sự dắt dẫn của đức Phật đà, một đấng Phước, Trí đã được hoàn toàn viên mãn.
        Sở dĩ trong giáo lý của đức Phật Thích Ca Mâu Ni có vô lượng pháp môn (nhất thiết pháp), từ rốt ráo hay chưa rốt ráo, giải thoát hay chưa giải thoát, tiệm giáo hay đốn giáo, viên mãn hay chưa được viên mãn hoàn toàn đều ở phước báo nghiệp cảm của chúng sinh ở cõi này chiêu cảm mà ra. Chứ không phải là do Phật pháp có quá nhiều pháp để tu.
        Trong Kinh Phật dạy, trong mười phương có hằng hà sa vô số, vô lượng vô biên vi trần hải cõi Phật, có cõi Phật hoàn toàn thanh tịnh chỉ có một Pháp duy nhất là Pháp đại thừa, cho hàng Bồ tát, không có các Pháp khác, không có Tứ Diệu Đế (Thanh Văn), không có Mười Hai Nhân Duyên (Duyên Giác) nói chi đến pháp của thế gian dành cho Trời, Người quỷ thần lại có cõi không có ba ác đạo. Lại cũng có cõi Phật có năm thứ trược như cõi Diêm Phù Đề của chúng ta đây, chớ không chỉ riêng có một cõi có năm thứ trược bất tịnh ở đây mà thôi. Lại có cõi Phật chỉ có ba thừa thuần là Bồ tát, Thanh Văn và Duyên giác mà không có những chúng sinh khác.
        Vì có nhiều loại bệnh khác nhau (vọng tưởng) nên phải cần có nhiều loại thuốc để điều trị (pháp tu). Mỗi loại thuốc có công dụng riêng biệt của nó. Trong Phật giáo cũng vậy, vì có vô số bệnh điên đảo tà kiến, phiền não nên đức Phật là bậc đại Y Vương cũng phải theo từng mỗi bệnh của mỗi chúng sinh mà cho. Thuốc này hợp với bệnh này, cũng thuốc này nhưng không trị lành được bệnh khác của người kia. Vậy hãy nói thử xem, thuốc nào là hay, thuốc nào là bậc nhất. Cũng vậy, trong Phật giáo hãy nói thử xem pháp môn là pháp bậc nhất, pháp nào là tối thượng.
        Không có, thuốc trị lành căn bệnh là thuốc hay, pháp trị lành vọng tưởng, đảo điên đó là Pháp diệu, tất cả mỗi pháp môn trong Phật giáo đều là bậc nhất mà trong đó không cái nào là thứ hai. Chỉ có người rãnh rỗi mới đem pháp môn này so với pháp môn kia. Chư tổ sư của các tông phái, trên đường hoằng dương đạo Pháp duy chỉ có thứ tâm đó là làm cho chúng sinh hưởng được mùi pháp vị, hưởng được sự giải thoát, mau nhiếp tâm trừ vọng tưởng. Nên mới phương tiện so hơn thiệt, hầu làm cho người tu học mau nhiếp tâm vào một pháp để sớm được giải thoát. Chư tổ khi nói tâm không trụ vào pháp, không chấp tướng. Người nay chẳng hiểu rồi đem ra nói lại y như vậy, đó chính là không hiểu ý của tổ sư, cũng chính là phỉ báng.
        Vậy tọa thiền có tốt không? Trì chú có được không? Tụng kinh như thế nào? Niệm Phật có được chăng? Người theo pháp này thì bày xích pháp môn kia, người tu theo pháp môn kia lại bày xích pháp môn nọ. Như vậy đều là tà kiến hết (sự thấy không đúng), vì đó không phải là giáo lý tuyệt đối. Mỗi chúng ta có nhân duyên sâu dầy với mỗi pháp môn từ nhiều đời trước, kiếp này gặp lại thọ nhận và hiểu sâu hơn một chút. Đó cũng chỉ là thiện căn, gốc nhân trồng có khác, nên nay quả cũng có khác. Tọa thiền là Phật pháp? Niệm Phật tụng kinh không phải là Phật pháp chăng? Đừng si mê mà đem ra để tranh luận, đúng sai, thấp, cao. Vì tất cả những thứ đó sẽ không giúp ích gì cho sự tu tập ở cá nhân của chúng ta, mà chỉ đưa chúng ta vào địa ngục bởi vì báng Phật, hủy Pháp.
        Hãy lo tu và chuyên nhất để nhất tâm vào pháp môn mà chúng ta đang tu để sớm gặt được quả. Đừng tu bằng cái miệng, vì sẽ không đi tới đâu hết.
        Trong Phật giáo có rất nhiều pháp môn, mỗi tầng lớp của thiện căn và phước đức để gặt hái, vậy chúng ta hãy dứt khoác và biết chắc chắn rằng mình muốn đạt được những gì? Học Phật để tạo công đức cầu được làm thân người? làm Trời? sanh lên trời Đâu Suất để gặp đức Đương Lai Di Lặc Phật, hay muốn một đời này thoát khỏi vòng sinh tử chuyên nhất trì danh hiệu Phật để được vãng sanh.
        Mỗi chúng ta phải biết rõ ràng, bản thân chúng ta muốn gì? Người không có duyên với thế giới Cực Lạc, không muốn vãng sanh chúng ta cũng đâu có thể phải bắt buột họ làm theo như chúng ta. Mỗi người trong chúng ta mỗi mỗi đều khác? Mọi việc thiện, mọi công đức từ trì chú, tọa thiền, niệm Phật v.v... đều có thể hồi hướng theo ý nguyện của mình. Người chuyên tu thiền mà muốn vãng sanh cũng có thể đem công đức đó hồi hướng vãng sanh (nhưng có biết chắc là đã đủ khả năng để vượt khỏi hay không mà thôi), người niệm Phật cầu phước báo trời, người, mỗi mỗi đều thanh tựu viên mãn, nếu như người đó làm theo chánh Pháp. Chớ không có chuyện trái nghịch gì hết. Trong kinh Phật đã dạy như vậy, lại hợp với bản nguyện của Đức Từ Phụ A Di Đà Phật, trong 48 đại nguyện hải của Phật đà đâu chỉ có một nguyện duy nhất là nguyện thứ 18 là người trì danh hiệu của tôi, nghĩ tưởng đến tôi, sẽ trì danh hiệu của tôi được vãng sanh đâu. Nếu nói theo những hạng người tà kiến, tranh hơn thua thì chắc chỉ có mỗi nguyện thứ 18 của Phật đà là được viên mãn còn 47 đại nguyện kia không được viên mãn hay sao?
        Người học Phật chân chánh đừng lập đi lập lại những lời nói của một số người, vô tình hay cố ý đó là hủy báng Pháp, nếu không hiểu. Một pháp môn chúng ta đang tu tập đó chỉ là một pháp tu trong vô số pháp môn phương tiện cứu cánh của Phật đà mà thôi.
        Quả vị của Phật đả là viên mãn tròn khắp, cho nên không có đức Phật nào lại là hơn đức Phật nào, mỗi công đức của mỗi vị Phật đều viên mãn và tròn đầy như nhau. Có khác chăng là ở từng mỗi bản nguyện riêng cho mỗi từng quốc độ của mỗi vị Phật. Như đức Từ phụ A Di Đà Phật, khi ở nhân địa tu thì phát nguyện và chọn cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm để độ chúng sinh. Còn đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật thì phát nguyện cứu độ và chọn cõi Phật đầy đủ năm thứ trược.
        Đó là bản nguyện thệ riêng của mỗi đức Phật ở tu nhân địa khi tu Bồ tát đạo. Trong kinh đức Từ Phụ dạy: "Ở đời sau khi Như Lai diệt độ rồi, nếu có người chí tâm thọ trì danh hiệu, chiêm ngưỡng tướng hảo của Như Lai, nên sẽ thoát khỏi các tội nơi sinh tử trong tám mươi ức kiếp, cùng khiến phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".
        Lại nữa, đức Từ Phụ lại dạy rằng: "Này A Nan! Sau khi Ta diệt độ, nếu ai xưng niệm danh hiệu Như Lai và danh hiệu của chư Phật, sẽ được phước báo vô lượng, vô biên".
        Mỗi chúng ta, không nên theo cái kiến thức bất tịnh của mình, vô tình hay cố ý phỉ báng Phật, hủy báng Pháp. Đó không phải là hạng người Phật tử chân chánh. Do đó, đừng nghe cũng đừng theo những người tà kiến, vô tri.
        Như trên đã nói, nếu chúng ta biết mình học Phật pháp để cầu hướng đến quả vị gì, thì cứ theo thiện căn của mình đang có (pháp đang tu không phân biệt là tu pháp gì) rồi đem công đức đó hồi hướng về thì đều được viên mãn.
        Pháp môn tịnh độ là một trong những pháp môn vượt trội hơn hết đối với tất cả các pháp tu khác trong thời này? Vì sao? Vì nghiệp của chúng sinh quá nặng. Thế gian thời nay xét cho cùng chỉ được phước báo thế gian, mà không có phước báo của xuất thế. Hãy nhìn thật kỷ xem thì sẽ rõ. Đã như vậy, thì có người vì sợ sinh tử sợ luân hồi trong sáu nẻo, sợ rớt vào ba đường ác mà muốn được giải thoát, thì có cách nào? Chỉ có một cách duy nhất đó là nguyện được vãng sanh về thế giới của đức Từ Phụ A Di Đà Phật, đem hết mọi công đức mà bản thân đã làm được đều hết lòng hồi hướng về thế giới kia, lại chuyên trì thánh hiệu của đức Từ Phụ A Di Đà Phật để được chắc phần vãng sanh. Vì trong kinh đức Phật đã dạy chúng ta rằng, không thể nhờ vào một chút phước đức mà có thể sanh về thế giới kia. Ui cha! Nếu vậy thì làm sao vãng sanh được? Làm sao bảo đảm được phần an toàn là bản thân mình không rơi vào sáu nẻo luân hồi.
        Do đó, muốn chắc được phần vãng sanh ngoài tu các công đức, ngoài tu theo các pháp môn, phải luôn nghĩ tưởng đến Phật và trì thánh hiệu, để làm gì? Để được chắc phần vãng sanh vĩnh viễn thoát ra ngoài vòng luân hồi đau khổ? Nếu nói vậy, thì có người trì danh hiệu chư Phật khác thì không được vãng sanh hay sao? Không đúng, nếu có người chuyên tâm nhất ý trì danh hiệu của Phật Thích Ca, Phật Dược Sư hay bất cứ thánh hiệu của một vị Phật nào, rồi đem công đức đó hồi hướng về thế giới kia cũng đều được cả.
        Nhưng đã là người thật sự sợ sanh tử muốn cầu được vãng sanh, thì tại sao lại không trực tiếp từ theo con đường đã có sẵn lại phải đi vòng vòng, quanh co rồi mới vào. Do đó, là người muốn cầu vãng sanh chỉ cần chuyên tâm nhất ý xưng hồng danh của đức Phật A Di Đà.
        Thứ nhất là vì Ngài là vị Phật đã phát nguyện ở thời quá khứ để mở ra cõi nước thanh tịnh, chấm dứt hết mọi khổ đau của sinh tử. Ngoài phát nguyện mở cửa cho bất cứ chúng sinh nào trong mười phương thế giới, nếu muốn sanh về thế giới của Ngài, chỉ cần đem công đức tu tập hồi hướng về thế giới của Ngài thì tất cả đều được như ý nguyện. Hơn thế nữa, nếu chỉ có chư đại Bồ tát hay những bậc thánh có thể tu trọn các thiện nghiệp mới có thể vãng sanh thì còn chúng sinh trong vòng sinh tử, những kẻ phàm phu tục tử, không phước đức như chúng ta thì làm sao có thể vãng sanh về đó?
        Đức Từ Phụ lại dạy, nhất tâm xưng một câu Phật hiệu công đức bất khả tư nghì, không thể nào có thể đo lường được. Vậy thì người muốn vãng sanh về thế giới kia chỉ cần chuyên tâm nhất ý, luôn luôn nhớ tưởng và xưng danh hiệu của Phật A Di Đà, đã có đủ công đức thanh tịnh lại trực tiếp từ bản nguyện của đức Từ Phụ A Di Đà Phật để đi vào, như vậy sẽ đủ mọi thuận duyên. Cho nên cần phải xưng thánh hiệu của đức Từ Phụ A Di Đà Phật. Ngoài người trồng đủ thiện căn, những kẻ tà kiến, ngu si đầy nghiệp chướng như chúng ta, làm sao có đủ thiện căn phước đức để được vãng sanh về thế giới của Ngài? Do đó, cần phải nương vào tha lực của Phật, nương vào đại thệ nguyện hải ở nhân địa của Phật để được vãng sanh.
        Thứ hai, vì đức Phật A Di Đà là bản thể của tự tánh, là pháp giới tạng thân A Di Đà Phật. Bao trọn hết tất cả công hạnh và thành tựu viên mãn hết trăm ngàn vạn ức hạnh nguyện của chư Phật. Do đó, niệm danh hiệu của đức Phật A Di Đà, tức là đã niệm hết tất cả danh hiệu của chư Phật. Như vậy, người muốn được vãng sanh vào thế giới An Lạc của Phật A Di Đà chỉ cần trì danh hiệu của Ngài.
        Chúng ta phải nên cố gắng xả bỏ hết mọi chướng duyên, để nhiếp ý chuyên tâm trì thánh hiệu "Nam Mô A Di Đà Phật" để được đới nghiệp vãng sanh. Đừng để thời một thời gian nào rãnh rỗi cho mầm, tham, sân, si có cơ hội để nảy mầm cho dù là một vi tế. Đừng si mê mà đem lý trí phàm tục, cái thông minh được từ những âm đức và thiện căn trong nhiều đời quá khứ mà muốn thẩm định được nguồn tuệ giác xuất thế của Phật đà. Vì dầu trải trăm ngàn a tăng kỳ kiếp cũng chẳng được gì cả. Khát nước mà không uống chỉ nói thì làm sao hết khát cho được. Pháp môn của Phật dù cho là tuyệt diệu nhưng đối với những hạng người chỉ biết trao chuốt ngoài cửa miệng, dùng cái thấy, cái nghe, cái biết bất tịnh thì cũng không có giá trị nào hết, không giúp được gì hết. Đó có phải là lỗi của pháp môn mà đức Phật đã dạy không?
        Tuyệt hẳn là không! Tại vì họ tự cho là họ quá thông minh đó thôi. Những cái thấy, cái nghe, cái biết,  từ cái cái trí thông minh của sinh tử được uốn nắn trên đầu lưỡi rồi lại tuông ra. Nói ôi thôi đâu là đúng, đâu là sai. Kinh này là Kinh ngụy, pháp này không phải do Phật nói v.v... Họ nói rất lưu loát, rất là logịc, những ai thường dụng công bằng đầu lưỡi chắc chắn đều bị họ hốt hồn hết trội. Nhưng họ có biết nào đâu, những loại thế trí biện thông đó là một trong tám bát nạn, đó là sở tri chướng. Đó là chướng ngại cho việc tu tập đưa đến giải thoát của một người con Phật chân chánh.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.2/2/2014.TAM THANH.BACH LIEN HOA.

NGỌN ĐÈN CHÁNH PHÁP.


Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, dạy các Tỷ kheo: Này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác? 

Này Ananda, ở đời, vị Tỷ kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác. 

Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

* Trước khi Thế Tôn nhập Niết bàn, một trong những di huấn quan trọng sau cùng của Ngài cho hàng đệ tử là: “Hãy nương tựa vào chính mình, dùng ngọn đèn Chánh pháp để soi sáng cho cuộc đời của mình, không nương tựa vào bất cứ điều gì khác”. Vì thế, mỗi người con Phật trong sự nghiệp tu hành luôn tâm niệm “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”, không hề ỷ lại hay dựa dẫm vào bất cứ thế lực nào ở bên ngoài. Quá trình chuyển hóa thân tâm hướng đến thanh tịnh, an lạc là do sự nỗ lực của tự thân dưới ánh sáng của ngọn đèn Chánh pháp.

Giáo pháp của Thế Tôn thì quá bao la, đồ sộ nhưng cốt tủy vẫn là tu tập Tứ niệm xứ. Thế Tôn cũng từng dạy “Đây là con đường duy nhất đưa đến chứng đạt và an trú Niết bàn”. Quán thân, thọ, tâm và pháp để nhiếp phục tham ái, ưu bi ở đời là hành trang căn bản, vô cùng cần thiết để chứng đạt giải thoát. Dù tu tập theo bất cứ pháp môn hay truyền thống Phật giáo nào thì vẫn không thể thiếu nội dung Tứ niệm xứ. Vì lẽ ấy, Thế Tôn đã xác định những ai thiết tha học hỏi và hành trì Tứ niệm xứ là “những vị tối thượng trong hàng Tỷ kheo của Ta”.

Ngọn đèn Chánh pháp Tứ niệm xứ hiện vẫn còn lưu truyền, giảng dạy và thực hành. Tứ niệm xứ là pháp môn thực hành, ứng dụng rất linh hoạt và có tác dụng trị liệu, chuyển hóa thân tâm rất thiết thực, sâu sắc. Như Lai đã trao cho chúng ta ngọn đèn, vấn đề là phải tự thắp sáng đời mình để phá tan hôn ám của vô minh.


HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.2/2/2014.TAM THANH.BACH LIEN HOA.

Saturday, 1 February 2014

SÁU NẺO LUÂN HỒI.

Trong thuyết luân hồi của Phật Giáo, các kiếp liên tiếp nối theo nhau như một chuỗi mắt xích dài vô tận. Kiếp này là quả của kiếp trước và là nhân cho kiếp sau. Do đó các kiếp sống có vô số mức khổ sướng khác nhau, và không phải kiếp nào chúng sinh cũng là người cả. Có nhiều loại chúng sinh trong vòng luân hồi, chúng sinh loại này sau khi chết có thể biến thành chúng sinh loại khác. Chẳng hạn thú biến thành người, người biến thành thiên thần, v.v... và cũng có thể biến ngược lại. Tất cả đều do nghiệp lực quyết định, nghĩa là do những việc thiện hay ác mà chúng sinh ấy làm trong kiếp trước đó. Chúng sinh không phải chỉ có trong trái đất này mà còn ở trong hằng hà sa số hành tinh khác trong vũ trụ. Có những hành tinh làm bằng những chất mà mắt con người không thấy được dành cho những chúng sinh vô hình đối với con mắt loài người. Có thể nói chúng sinh bị luân hồi trong 6 nẻo, còn gọi là lục đạo luân hồi, tức sáu cảnh giới, xếp theo mức độ từ sướng tới khổ như sau:

1. THIÊN:

(Nguyên nghĩa là có thân sáng láng) là cảnh giới của những chúng sinh vô hình, phần nào tương tự như những "thiên thần", có thân xác vi tế hơn con người, sống trong những điều kiện dễ dàng hạnh phúc hơn, đời sống cũng lâu dài hơn con người rất nhiều. Tuy nhiên, về mặt trí tuệ, chư Thiên thường không hơn con người. Họ sinh ra theo kiểu hóa sinh (nghĩa là bỗng nhiên xuất hiện dưới hình thức một thiếu nữ hay một thanh niên, không phải nhờ tới ai làm cha mẹ sinh mình ra cả). Chư Thiên cũng có nhiều loại, nhiều đẳng cấp khác nhau (dục giới, sắc giới, vô sắc giới, mỗi giới lại phân thành nhiều cảnh Trời khác nhau), mức độ hạnh phúc và cách thế sống hay tuổi thọ giữa các loại, các cấp cũng khác nhau.

2. NHÂN:

Cảnh giới của con người với những điều kiện sống khó khăn hơn, trong đó hạnh phúc và đau khổ lẫn lộn. Ðây là cảnh giới thuận lợi nhất để tu giải thoát nhờ có sự quân bình tương đối giữa sướng và khổ. Vì thế, các vị Bồ Tát thường chọn tái sinh vao cảnh giới này, do có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để phục vụ và thực hành những pháp môn cần thiết để thành Phật. Kiếp cuối cùng của Bồ Tát luôn luôn ở cảnh người.

3. ATULA:

Cảnh giới này giống như cảnh giới thấp nhất của Chư Thiên (dục giới), nghĩa là thuộc thế giới vô hình, nhưng có rất nhiều đau khổ tinh thần. Ðó là nơi tập trung những chúng sinh nhiều tham vọng, ham quyền lực, kiêu căng, ghen tị, hay có chiến tranh..., tuy điều kiện vật chất dễ dàng hơn con người. Nhiều học giả xếp cảnh giới Atula ngay sau cảnh giới Thiên, rồi mới tới Nhân, vì xác thân họ, điều kiện sống của họ gần với Chư Thiên hơn. Cảnh giới này khiến ta liên tưởng tới cảnh giới của Satan là thiên thần sa ngã, còn cảnh giới của Chư Thiên như cảnh giới của các thiên thần tốt lành.

4. NGẠ QUỶ:

(Nghĩa là quỉ đói): Cảnh giới của những chúng sinh tham lam vật chất (tiền bạc, của cải, lạc thú thể chất như ăn uống, nhục dục...) lúc nào cũng khao khát những thứ đó nhưng không bao giờ được thỏa mãn, khiến họ luôn luôn khổ đau. Ðời sống của họ dài và đau khổ. Thân xác của họ vi tế hơn con người, nên mắt thương của con người không thấy được. Cảnh giới của họ không phải là một tinh tú riêng biệt. Họ thường sống trong rừng bụi, ở những nơi dơ bẩn trên mặt đất, và sinh sống bằng những thực phẩm thừa thãi hoặc thiu thối của con người hay của những động vật khác.

5. SÚC SINH:

Cảnh giới của loài vật mà chúng ta vẫn thấy: thú vật, chim chóc, cá... là những chúng sinh ít hiểu biết, kém ý thức, có đời sống rất thấp kém, hầu như không có đời sống tinh thần. Chúng thường xuyên phải sống trong sợ hãi (bị thú khác hoặc bị người giết ăn thịt, hoặc bị thúc đẩy đi giết các thú khác), nỗi sợ chung là sợ đói. Gia súc thì bị con người nuôi để ăn thịt, để giải trí. May mắn cho chúng ở chỗ đời sống chúng ngắn ngủi và ý thức trí tuệ chúng kém cỏi nên những đau khổ của chúng qua mau và hời hợt, không sâu sắc. Nhưng không may ở chỗ chúng khó có cơ hội để làm công đức, không đủ trí tuệ để tu tập thoát khỏi kiếp lầm than đó.

6. ÐỊA NGỤC:

Cảnh giới của những chúng sinh độc ác, hận thù, ích kỷ, ghen ghét, hay giận dữ, thích gây đau khổ cho người khác. Họ phải chịu những cực hình rất đau đớn, khắc nghiệt để trả quả cho những hành vi bất thiện đã tạo trong quá khứ. Ðời sống trong các địa ngục dài hay ngắn tùy theo từng địa ngục khác nhau. Mỗi địa ngục có một sắc thái riêng, với những cực hình khác nhau tương xứng với tội ác đã phạm. Sau thời gian có thể rất lâu tại đây để đền tội, tội nhân có thể ra khỏi để làm lại cuộc đời mới, trong một kiếp sống mới tốt đẹp hơn, để rồi về sau có thể trở thành Phật. Chính Ðức Phật, trong một vài tiền kiếp, đã từng sa địa ngục vì đã phạm những trọng tội.
Tất cả các cảnh giới trên đều bị chi phối bởi luật Vô Thường, nên không có ai ở mãi trong một cảnh giới nào cả. Không có một điều phúc đức nào vô cùng để đáng thưởng vô thời hạn trong một cảnh giới hạnh phúc nào đó. Và không có một tội ác nào lớn tới mức vô cùng để đáng bị phạt đời đời tại một cảnh giới đau khổ nào đó. Do đó, chúng sinh cứ trôi lăn trong lục đạo mãi, hết ở cảnh khổ lại qua cảnh sướng, hết cảnh sướng lại rơi lại vào cảnh khổ. Cho tới một lúc nào đó, chúng sinh giác ngộ được con đường giải thoát, và quyết tâm tu tập thành Phật, thì mới ra khỏi cái vòng luân hồi luẩn đó. Trong lục đạo, chỉ có hai cảnh giới được coi là sướng, là cảnh giới Thiên và Nhân, nhưng cảnh giới Nhân là quí hơn cả. Xét về mặt hạnh phúc thì cảnh giới Thiên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, nhưng chính vì vậy mà họ bị ru ngủ không muốn tìm sự giải thoát thật sự, để rồi khi họ hưởng hết phúc lành, họ lại rơi vào một cảnh giới khổ hơn. Các Atula thì tâm trí bị thu hút vào việc tranh cãi hơn thua, các ngạ quỉ thì quan tâm đến những thèm khát không được thỏa mãn, súc sinh thì u mê chỉ nghĩ đến thức ăn và thỏa mãn tính dục, còn ở địa ngục thì mọi chúng sinh bị hành khổ đủ cách nên không còn đầu óc đâu mà nghĩ đến đạo giải thoát. Chỉ có con người có sướng có khổ một cách tương đối quân bình, nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát tâm đi tìm con đường giải thoát. Chỉ có con người là có nhiều tự do quyết định hơn cả, có đầu óc sáng suốt hơn cả để có thể đạt tới trí tuệ giải thoát. Trong lục đạo, chỉ có con người có nhiều cơ may, nhiều khả năng để thành Phật nhất. Do đó, theo Ðức Phật, được làm người là cả một cơ hội quí báu không nên uổng phí. Kinh Duy-Ma-Cật, Phẩm 8 (Phật Ðạo) nói rõ điều đó.
Theo Phật Giáo, chúng sinh không phải chỉ có ở trái đất này, mà còn ở trong hằng hà sa số các hành tinh khác. Chúng sinh nhiều vô cùng tận, và hệ thống tinh tú để chúng sinh ở cũng vô cùng tận. Trong Kinh Tăng-Nhất A-Hàm, Phật nói: "Không thể đi đến mức cùng tận của thế gian". Về vấn đề chúng sinh, khoa học ngày nay chưa thể kiểm chứng được những điều Phật dạy. Nhưng về hệ thống tinh tú, thì các nhà khoa học thời nay đã nhìn nhận: Không thể xác định được vũ trụ đến đâu là cùng tận. Số tinh tú mà các nhà thiên văn học khám phá được đã nhiều hơn gấp bội dân số thế giới hiện nay. Vì thế, giữa muôn tỉ tinh tú, có vô số tinh tú lớn gấp triệu lần trái đất này, mà tin rằng chỉ trái đất mới có sự sống hay có loài người, thì quả là tin một điều hết sức mạo hiểm, xác xuất đúng hết sức nhỏ bé. Do đó, điều Phật nói rằng có chúng sinh ngoài trái đất này có rất nhiều khả năng đúng. Riêng về thiên văn học, quan niệm của Ðức Phật đã đi trước thế giới cả hàng ngàn năm, thậm chí 2000 năm.
Các chúng sinh trong cảnh giới này có thể đầu thai sang cảnh giới khác, trong tinh tú này có thể đầu thai sang tinh tú khác, tùy theo sự đòi hỏi của nghiệp lực khiến ta phải đầu thai vào nơi nào thích hợp nhất với ta tại thời điểm đó. Chẳng hạn như ngay giây phút này, một chúng sinh ở trái đất này vừa chết và cần có chỗ đầu thai thích hợp với nghiệp của mình. Nhưng vào giây phút đó, tại trái đất này không có một nơi nào để đầu thai phù hợp cả: những nơi có thể đầu thai được (do noãn và tinh gặp nhau), thì cha mẹ hay hoàn cảnh không phù hợp, còn những cha mẹ phù hợp thì lại không thụ thai vào thời điểm đó. Mà trong muôn tinh tú kia, thế nào chả có nơi thích hợp vào thời điểm đó? Ðương nhiên nơi nào gần nhất vẫn là ưu tiên. Vì thế, việc chuyển kiếp sang tinh tú khác thường hay xảy ra. Do đó, có những trường hợp chúng sinh ở tinh tú này càng ngày càng tăng lên, đang khi ở một tinh tú khác càng ngày càng giảm đi. Ðiều đó giải thích tại sao dân số địa cầu càng ngày càng tăng lên: cách đây mấy ngàn năm dân số thế giới chỉ tính bằng triệu, nhưng hiện nay phải tính bằng hàng tỉ, đang khi theo giáo thuyết của Phật, con số chúng sinh không hề tăng lên hay giảm đi. Vả lại, chúng sinh không phải chỉ là loài người, mà còn là nhiều loài khác trong lục đạo có thể chuyển đổi cho nhau. Hơn nữa, theo Phật tổ thì số chúng sinh nhiều vô tận: một con vi trùng cũng là một chúng sinh, mà một người trí tuệ cao cả như Phật tổ cũng là một chúng sinh.
Theo Phật Giáo thuần túy, hiện tượng tử-sinh, tức chết rồi đi đầu thai sang kiếp khác, xẩy ra ngay tức khắc, bất cứ ở nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu tức khắc vào bộ máy thu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ chết sang tái sinh ngay tức khắc, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào cả. Nghĩa là không có chuyện linh hồn người chết phải tạm trú ở một nơi nào đó chờ đến khi tìm được một nơi nào thích hợp mới đi đầu thai. Như vậy là chết lúc nào thì đầu thai lúc đó, và luôn luôn có một nơi thích hợp trong vũ trụ để đầu thai. Vì vũ trụ là một bộ máy rất hòa hợp, mọi chuyện tự nhiên dù có vẻ ngẫu nhiên nhưng vẫn luôn luôn ăn khớp với nhau. Như vậy, theo Phật Giáo nguyên thủy, nếu hai người cùng chết một lượt thì sẽ đầu thai cùng một lúc ở hai nơi khác nhau, cho dù một nơi rất gần còn nơi kia rất xa. Tương tự như hai người ở cùng một chỗ có thể nghĩ đến hai nơi ấy cùng một lúc, không vì nơi này xa mà phải nghĩ đến sau nơi kia.
Tuy nhiên, về sau, nhiều thuyết cho rằng chỉ có những chúng sinh có nghiệp lực mạnh mới tái sinh ngay tức khắc, nghĩa là những người đã phạm nhiều tội ác thì tâm thức của họ sẽ bị những cảnh giới xấu thu hút ngay, hay những người đã làm rất nhiều việc thiện sẽ được những cảnh giới lành rút về ngay. Còn những người thuộc loại trung bình, không xấu lắm và cũng không tốt lắm, thì tâm thức họ có thể ở trong cõi trung ấm, và có thể dùng tư tưởng để tạo cho mình một xác thân bằng thanh khí của cõi trung ấm (cõi đó cũng chiếm cùng một không gian với cõi dương gian, ví như nước và miếng bọt biển có thể cùng chiếm một không gian và lồng vào nhau). Tâm thức ấy chỉ ở trong cõi trung ấm khoảng 49 ngày. Trong thời gian này, tâm thức vẫn có thể thay đổi tư tưởng (chẳng hạn quyết tâm trở nên tốt đẹp hơn, hay bị lôi cuốn vào những sân hận mới...) để có thể đầu thai vào những hoàn cảnh tốt đẹp hơn hoặc xấu xa hơn. Tối đa là 49 ngày, tâm thức phải đi đầu thai. Vì thế, trong vòng 49 ngày sau khi một người chết, thân nhân của người ấy có thể làm lễ cầu siêu cho người ấy (xem phần độ vọng ở sau).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.2/2/2014.TAM THANH.BACH LIEN HOA.