Sunday, 29 April 2012


Đại Bi Kinh

Cao Tề Thiên Trúc tam tạng Na Liên Đề Na Xá dịch từ Phạn ra Hán văn.
Kinh Đại Bi - Quyển thứ hai
Phẩm La Hầu La thứ tư :
Lúc bấy giờ Đại Đức La Hầu La mới nghĩ như thế nầy, ta nay có điều gì vui, điều gì vừa ý, có điều gì mừng, phải nên kiên nhẫn đến gặp Đức Thế Tôn trước khi vào Niết Bàn. Nghĩ như thế rồi liền đến phương Đông Bắc cách 10 quốc độ Phật, nơi đó có thế giới tên là Ma Li Chi. Tên Phật là Nam Thắng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri. Lúc bấy giờ Ngài Huệ Mệnh La Hầu La mới từ thành Câu Thi Na hướng về phương Đông Bắc nơi của Đức Nam Thắng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri đang ở, đến đó cúi đầu làm lễ, lui ra vẻ mặt sầu khổ ưu bi không vui. Lúc bấy giờ Ngài Nan Thắng Như Lai bảo Ngài La Hầu La rằng :
Nầy La Hầu La! Hãy đừng sầu muộn! Nầy La Hầu La! Tất cả những việc yêu thương từ ý nghĩ v.v... đều do pháp hữu vi mà hòa hợp, đương nhiên phải chia lìa. Nầy La Hầu La! Phàm việc như thế, tất cả chư Phật Thế Tôn đã làm những Phật sự xong, đều phải vào Niết Bàn. Nầy La Hầu La! Nên biết rằng nay Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai ứng cúng Chánh Biến Tri là bậc lực sĩ sanh đang ở giữa 2 nơi cây Sa La song thọ nằm nghiêng về phía tay mặt như dáng Sư Tử Vương, ngày hôm sau ngay giữa đêm nầy sẽ vào cảnh giới Vô Dư Niết Bàn tức Bát Niết Bàn vậy. Này La Hầu La! Hãy nên biết rằng: Nếu sau khi Như Lai vào vô dư Niết Bàn thì đừng lo buồn. Sau khi Phật nói lời ấy lúc bấy giờ La Hầu La bạch Đức Nan Thắng Phật rằng :
Kính bạch Đức Thế Tôn! Con không thể chịu đựng để nghe rằng Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Biến Tri vào Niết Bàn, huống chi có thể nhẫn thấy Phật Thế Tôn vào Niết Bàn. Điều nầy con không thể kham nhẫn để thấy. Sau khi La Hầu La đáp lời vị Phật Nan Thắng như thế liền hóa đi nơi khác đến phương trên qua 99 thế giới khác và đến thế giới thứ 100. Nơi đó cũng đang có Đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri, hiệu là Thương Chủ, còn đang tại thế. Sau khi La Hầu La đến rồi, dập đầu cúi lạy sầu khổ khóc thương, ưu sầu khóc lóc, liền đứng một bên. Đứng một bên xong, lúc ấy Ngài Thương Chủ bảo La Hầu La rằng :
Hãy dừng lại! La Hầu La! Cũng đừng sầu khổ! Nầy La Hầu La! Tất cả các pháp, sanh cũng chả có, già cũng lại không, bịnh cũng chẳng bịnh, mất cũng chẳng mất, không có bằng chứng. Nầy La Hầu La! Quá khứ chư Phật, Thanh Văn, Duyên Giác tịch diệt để đến Niết Bàn thì vị lai chư Phật, Thanh Văn, Duyên Giác cũng an vui tịch diệt vào cõi Niết Bàn vậy. Nầy La Hầu La! Giả sử Như Lai ở đời một kiếp hay đến 100 kiếp đi nữa thì đương nhiên cũng phải vào Niết Bàn. Nầy La Hầu La! Người mà vào cảnh cứu cánh tịch diệt là cứu cánh định, cứu cánh thanh lương, cứu cánh cuối cùng, cứu cánh an lạc, cứu cánh an ổn, cho nên không có chốn Niết Bàn. Nầy La Hầu La! Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ và tử khổ. Vì ân ái xa lìa, ghét nhau gặp gỡ, cầu mà không được, 5 ấm không an... tất cả đều khổ. Nầy La Hầu La! Chỉ có Niết Bàn là an lạc. Nầy La Hầu La! Cũng chẳng còn không bao lâu nữa là vào Niết Bàn. Nầy La Hầu La! Ta cùng với Đức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn cùng nơi, không còn sanh, không còn già, không còn bịnh, không còn chết nữa. Không có ái biệt ly, không oán tắn hội cũng chẳng có ưng ý. Nầy La Hầu La! Hãy đừng buồn thương luyến tiếc, đừng sầu khổ. Nầy La Hầu La! Ta đang suy nghĩ : ai mà có sanh tức kẻ ấy phải chết. Ai có chết thì kẻ ấy sẽ lưu chuyển, rồi trở lại sanh. Nầy La Hầu La! Tất cả đều là hư vọng, khuynh đảo, chấp trước vậy, chưa nghe Thánh Pháp, là những kẻ phàm phu vậy. Chưa thấy Thánh nhơn, chưa tin Thánh pháp, chưa học Thánh pháp, chưa giải Thánh pháp, chưa hiểu Thánh pháp, chưa ở trong Thánh pháp cho nên mới có tâm khuynh đảo tưởng tượng việc thấy nghe, cho nên điên đảo. Vì điên đảo mà sanh vậy. Từ sanh đến già, từ già đến chết, từ chết đến sanh trở lại phải trải qua biết bao nhiêu lưu chuyển khổ sở, ái luyến bi sầu, đấm ngực la khóc. Nầy La Hầu La! Tất cả các bậc Thánh nhơn chỉ có tất cả giới là việc phải giữ, không ai có thể không như thế. Nầy La Hầu La! Như vậy các vị Đạo Sư đã làm xong rồi và độ cho các đệ tử Thanh Văn đã xong và làm những chuyện đã làm. Nầy La Hầu La! Hãy đừng sầu khổ, đừng ưu buồn, đừng bi lụy. Nầy La Hầu La! Đức Thích Ca Mâu Ni, Ngài là bậc vô thượng pháp vương trong dòng họ Chúng Trung Tôn, ta nên đến thăm lần cuối, lễ bái cúng dường cung kính. Nếu Niết Bàn xong, cũng đừng sầu khổ. Nầy La Hầu La! Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bây giờ đang ở tại nơi lực sĩ sanh, tức rừng Sa La song thọ, nằm day phía mặt như dáng Sư Tử, đang nghĩ về La Hầu La, hãy liền đến đó. Sau khi nói lời như vậy Ngài La Hầu La liền bạch Phật Thương Chủ rằng :
Kính bạch Thế Tôn! Con không muốn nghe thấy Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Chánh Biến Tri vào Niết Bàn, huống lại nhẫn thấy Phật Thế Tôn vào Niết Bàn. Sau khi nói lời ấy rồi, thân tâm dao động, không thể tự giữ lại được, liền bạch tiếp rằng :
Như Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn từ trong dòng họ Thích mà sinh, là bậc vua trên các vua, là vật quý của chúng sanh, làm sao con nay có thể nhìn thấy Đức Phật vào Niết Bàn. Là người lân mẫn của tất ả thế gian, là bậc có hình tướng trong tất cả thế gian khó có. Làm đèn cho tất cả thế gian, làm cặp mắt cho tất cả thế gian. Vì tất cả thế gian mà tạo ra trí tuệ, chiếủ phá tất cả thế gian nầy. Ngày mai xa lìa không còn giữ lại gì cả. Sau khi nói lời như thế Đức Thương Chủ Như Lai bảo Ngài La Hầu La rằng :
Hãy dừng lại La Hầu La! hãy đừng lo buồn! La Hầu La! đã chẳng nghe Như Lai dạy sao. Tất cả các hành đều vô thường, tất cả các hành đều khổ, tất cả các pháp đều vô ngã. Chỉ có Niết Bàn tịch tịnh mà thôi. Nầy La Hầu La! Đức Phật Thế Tôn đã nói kệ như sau :
Các hành vô thường
Là pháp sanh diệt
Sanh rồi lại mất
Mất ấy là vui.
La Hầu La thưa! Như vậy Thế Tôn. Phật bảo La Hầu La! Đức Thế Tôn kia đã nói những lời như vầy : Tất cả sự yêu thương và ham muốn, phải thay đổi sanh diệt, ly tán. Dàu cho có ở lâu, cũng phải ra đi. La Hầu La thưa : Như thế đó Bà Già Bà. Như thế đó Tu Già Đà!
Phật bảo : Nầy La Hầu La! Các pháp hữu vi sanh ra các pháp, đều phải biết rằng các pháp nầy do sự phân biệt mà sanh khởi. Từ nhân duyên đó mà sanh; nếu không mất đu, tức không đúng vậy.
Lúc bấy giờ Ngài La Hầu La liền nhớ nghĩ đến Sư phụ mình là Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Biến Tri rồi rơi lệ và nói như vầy:
Ta từ ngày mai sẽ không thấy các vị Phật và các Tỳ Kheo vây chung quanh Phật nghe pháp, như trong biển lớn là núi Tu Di Vương, vì trang nghiêm chúng mà chiếu sáng các quang minh, giống như mặt trăng tròn đầy với các ngôi sao vây chung quanh, như mặt trời có ngàn ánh sáng chiếu rọi vào, như trong biển lớn có chất chứa rất nhiều của quý, như Chuyển Luân Vương có rất nhiều quyến thuộc bao bọc chung quanh, như Tuyết Sơn Vương các hoa đẹp đẽ đang khai nhụy thắm, như núi Thiết Vi tất cả gió ác đều chẳng thể động. Như vậy kính bạch Thế Tôn, tất cả luận nghị của ngoại đạo không thể làm lay động được. Giống như hoa sen ở trong hồ, không vì thế gian mà có thể ô nhiễm, cũng giống như quyến thuộc của Đại Phạm, giống như Đế Thích có hằng ngàn con mắt, như chúa sư tử ngồi nơi tòa sư tử không sợ khủng bố, lìa các sợ hãi mà gầm tiếng sư tử. Con từ ngày mai không thể thấy được.
Sau khi La Hầu La nói lời ấy rồi, đứng đó tự nhiên nước mắt chảy ròng. Lúc bấy giờ Đức Thương Chủ Như Lai bảo La Hầu La rằng :
Ta nay vội đến chỗ Phật kia, vì Đức Như Lai cũng muốn gặp ta. Nầy La Hầu La! Ta nay phải đi vội, đừng nên hỏi nữa mà hãy đến đó. Hãy đừng lo sầu với Thế Tôn kia. Nầy La Hầu La ta phải đi đây. Vì sao vậy ? Nầy La Hầu La! Các pháp của chư Phật và Phật vì lòng từ bi mà muốn thấy ta, chưa nhập Niết Bàn.
Lúc bấy giờ Ngài La Hầu La đầu mặt lễ chân Phật Thương Chủ rồi, giống như tráng sĩ vội vã đi ngay. Sau khi đi nhanh, La Hầu La đã đến nơi Phật, tại thành Câu Thi Na, nơi giữa hai cây Sa La song thọ, đến nơi Như Lai lại tỏ bày như vầy. Sau đó đầu mặt đem lễ nơi chân và từ bên phải nhiễu quanh 3 vòng rồi đứng một phía, ưu sầu khóc lóc chắp tay rơi lệ.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn mới bảo La Hầu La rằng : Nầy La Hầu La! Hãy đừng sầu bi luyến tiếc, khóc lóc khổ não, làm cho tâm sẽ phiền não. Nầy La Hầu La! Ta vì bổn phận làm cha, đã làm xong, ta cũng lại vì con mà đã làm xong bổn phận. Nầy La Hầu La! Hãy đừng sanh tâm luyến lưu sầu khổ nữa. Nầy La Hầu La! Ta cùng với tất cả chúng sanh, chứng được sự không sợ hãi, khuyên họ phát tâm tinh tấn, đừng lo sợ nữa, cũng đừng cho não hại sai khiến mà hãy tinh tấn lên. Nầy La Hầu La! Ta nay đang vào Bát Niết Bàn, không còn có thể làm gì nữa. Nầy La Hầu La! Ta có 2 việc cần phải đầy đủ. Đó là không làm não loạn và không làm chuyện giận hờn.
Lúc bấy giờ La Hầu La bạch Phật rằng : Kính bạch Thế Tôn! Bà Già Bà hãy khoan vào Niết Bàn! Tu Đà Già! Hãy khoan vào Niết Bàn. Duy nguyện Thế Tôn! Hãy ở lại đời thêm một kiếp nữa. Vì sự an ổn lợi lạc của chúng sanh vậy. Kính mong Ngài lân mẫn cho. Hãy vì sự lợi ích an lạc của trời người vậy !
Sau khi nói lời như thế rồi. Phật bảo Ngài La Hầu La rằng :
Nầy La Hầu La! Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri đã biết tường tận các pháp. Vì trong thế gian mà có danh hiệu là Phật. Nầy La Hầu La! Nơi Phật pháp đó, không thể tiêu diệt được, không sanh không diệt, không đến không đi, không thành không hoại, không ngồi không nằm, không hợp không tan. Vì sao vậy ? Nầy La Hầu La! Các pháp ở lại có nghĩa là không sanh, không diệt, không không và cũng không tự tánh, tịnh tịnh Niết Bàn, không vào nơi nhiều ít, còn mất. Không thể nói, không dùng lời lẽ để diễn tả con đường nầy. Đây là Phật Pháp, cho nên luôn luôn tồn tại, không bị mất đi, không bị chia lìa, cũng chẳng muốn chia lìa, cũng chẳng phải chẳng hòa hợp, chẳng làm, không cùng tận. Nầy La Hầu La! Ta đã tùy theo từng loại mà tuyên thuyết pháp nầy. Giả sử nếu chư Phật ra đời hay chẳng ra đời, tất cả các pháp nầy đều tồn tại. Các pháp nầy đều giữ nguyên như vậy. Pháp nầy không thay đổi, pháp nầy lìa khỏi sự mong cầu. Pháp nầy không có tự tánh vậy. Nầy La Hầu La! Như thế đó! Như Lai không có tướng giới để vào Bát Niết Bàn! không có tướng định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến để vào Bát Niết Bàn. Này La Hầu La! Hãy đừng buồn khổ, luyến tiếc nữa. Nầy La Hầu La! Tất cả các hành đều không thường, không định, không có hy vọng, không có cái cuối cùng của không thường và các pháp biến đổi. Nầy La Hầu La! Cho đến tất cả các việc làm nào đó chỉ để cầu giải thoát. Nầy La Hầu La! Đó là lời dạy của ta.
Sau khi Đức Phật nói cho La Hầu La thấy rõ rồi, lúc bấy giờ có 60 Đại Đức Tỳ Kheo, tất cả các lậu đã hết; tâm được giải thoát. 25 Tỳ Kheo Ni cũng được tâm giải thoát và chứng được vô lậu. Rất nhiều trời người xa rời trần cấu được pháp nhẫn thanh tịnh. 68.000 Bồ Tát được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Tá cả đều vui mừng lãnh thọ. Đều kêu lên là : Phật Pháp khó thể nghĩ bàn! Lại nữa các loại hoa như : Ưu Bà La, Ba Đầu Ma, Câu Ni Đầu, Phần Đà Lợi được rải chung quanh Phật và cất lên lời rằng : Chúng con vì đời sau cũng làm như vậy, làm Thầy của trời và người, xuất hiện nơi đời, nói những pháp thế gian vô thượng, vô tướng Niết Bàn. Đại Niết Bàn như vầy là Bát Niết Bàn. Các vị Bồ Tát nói lời như thế rồi, yên lặng mà đứng như thế.
- Phẩm Ca Diếp thứ năm
Lúc bấy giờ Ngài A-Nan tại bên giường Phật bi thương khóc lóc gieo mình xuống đất, dụ như rừng già mất đi cây lớn, nên mới thưa rằng :
Bà Già Bà vào Niết Bàn quá sớm! Tu Già Đà Niết Bàn quá sớm. Trong chúng sanh là bậc Đại Từ Bi vào nơi an ổn quá sớm. Là đèn của thế gian, là ánh sáng của trời người; nhưng vào Niết Bàn quá sớm. Hoa sen quý của chúng sanh vào Niết Bàn quá sớm. Là bậc long tượng của chúng sanh, tự điều phục, lại điều phục chúng sanh, còn nhiều người chưa độ, đã vội vào Niết Bàn. Là bậc Vô Thượng Đạo Sư đã vì thế gian mà làm cho an ổn lại vội đi nhanh thế. Dùng mắt trí tuệ để rọi soi thế gian, lại đi sớm thế. Thế gian nầy như người đui, không có kẻ dẫn đường. Là cha mẹ của chúng sanh trong thế gian, sao vội đi nhanh thế. Thế gian sẽ cô độc không chỗ để nương nhờ. Là hạng quý giá trong thế gian, làm sao mà ngày mai ta không còn thấy được nữa! tuy chỉ còn tên tuổi tại thế gian thôi.
Lúc bấy giờ Đức Phật mới bảo Ngài A-Nan rằng :
Hãy dừng lại! A-Nan! Hãy đừng sầu bi nữa! Ta đã từng nói về tất cả những sự luyết tiếc. Tất cả cái gì hòa hợp ắt có ngày sẽ ly tán. Nầy A-Nan! Các pháp hữu vi có sanh thì phải biết rằng pháp nhân duyên ấy phải hoại diệt. Nếu không bị hoại, không thể được như vậy. Nếu có ở đời, lại không tồn tại. Nầy A-Nan! Nếu có pháp mà sống đời đời như thế, tất cũng phải có chia lìa. Cho nên A-Nan đừng sầu bi nữa.
Lúc bấy giờ Ngài A-Nan chiêm ngưỡng tôn nhan của Phật, mắt không rời và suy nghĩ. Lúc ấy dụ như rừng cây mất đi cây lớn.
Phật lại bảo A-Nan rằng :
Nầy A-Nan! Hãy dừng lại! Hãy đừng sầu khổ! cũng đừng lo buồn mong ta ở lại đời. Nầy A-Nan! Ta đã từng dạy phàm tất cả các luyến ái, các pháp hữu vi hòa hợp, tức có biệt ly. Giả sử ở đời lâu dài có thể cũng phải mất đi như các pháp vậy. Nầy A-Nan! Từ thân miệng từ bi hiếu đạo của Như Lai, vô lượng tâm an lạc không có hai, không sân không hận và không lo buồn.
Lúc bấy giờ Ngài A-Nan, từ đất đứng lên vừa khóc vừa thưa :
Bạch Đức Thế Tôn: Con làm sao không sầu được! làm sao không buồn được. Con cùng với tất cả những người có lòng thương, cùng với tất cả những người trong thế gian, cùng với những người lân mẫn của thế gian, cùng với tất cả những người yêu thương của thế gian, cùng với tất cả những người trở về của thế gian, những người lãnh đạo của thế gian, những người vì lợi ích của tất cả thế gian, người vì sự an lạc của thế gian, như vậy đó, là bậc quý giá của chúng sanh ngày mai đây phải ly biệt.
Lúc bấy giờ Ngài A-Nan klhóc than xong rồi tiếp. Lạ thay, lạ thay! Các hành là một xác chết mà làm chỗ thờ, có thể như ánh sáng soi rọi. Ánh sáng lớn trong mọi ánh sáng, có trăm ngàn ức na do tha quyến thuộc vây quanh, làm cho thế gian nầy thấy biết nhớ nghĩ đến cảnh giới trí huệ, làm cho chúng sanh yên ổn nhưng mau quá. Bậc đại trí huệ! Bậc đại quang minh! Vì thế gian an ổn mà đi nhanh quá! Thế gian cô độc. Người giữ gìn sự yên ổn chưa xong đã vội ra đi. Đức Như Lai có đầy đủ thần thông biến hóa mà nay thì làm cho thế gian yên ổn chưa xong đã vội đi. Bạch Thế Tôn! Con làm sao không sầu được, con làm sao không buồn được. Bạch Thế Tôn! Con bây giờ tự ngờ tâm mình mà không phá đi hết. Bạch Thế Tôn! Con lại tự ngờ không ở trước Phật mà mất đi, tức thời Phật dùng thần lực mà cứu con. Cho nên con không chết được. Vì sao vậy ? Vì con đã nhận lãnh chỗ yếu pháp của Như Lai, 8 vạn 4 ngàn các pháp tạng đã thọ trì không quên, vì chưa lưu truyền cho mười phương trời người vậy. Bạch Thế Tôn! Con vì sự gia bị của Phật mà con chưa mệnh chung. Bạch Thế Tôn! Con làm sao không sầu! Làm sao chẳng buồn. Bạch Thế Tôn! Con sẽ đến thành Ca Tỳ La nơi Đức Thế Tôn đã sanh, tập trong dòng họ Thích lại để nói lời gì ? Lời nói đó là hôm nay Đức Thích Ca Mâu Ni bậc chúng trung tôn, vô thượng pháp vương sắp vào Niết Bàn. Con đến thành Vương Xá gặp Tỳ Đề Hy Tử A Xà Thế, nói lời thế nào ? Có thể nói Đức Phật hôm nay vào cõi vô dư ? Bậc hay cứu thế gian tội vô gián nay sắp đi rồi. Con đến thành Xá Bà Đề, phải nói lời nào ? Có thể nói bậc Đại Bi lân mẫn của thế gian đi vào cõi yên ổn. Con đến rừng Kỳ Đà nơi Trưởng Giả Cấp Cô Độc và sẽ bị hỏi rằng : Khi nào thì Như Lai đến ở nơi cây của Kỳ Đà và vườn Cấp Cô Độc ? Con phải đáp sao đây ? Con đến thành Tỳ Xá Ly trước các vị Ly Xa Tử phải nói những gì ? Có thế nói bậc lân mẫn của thế gian là tối đại tôn sư sẽ yên ổn ra đi chăng ? Nhiều nơi các bậc trai lành gái tốt đến hỏi con, con phải đáp sao đây ? Có thể nói rằng bậc đại trí của thế gian, là bậc đã đoạn tất cả nghi và an ổn ra đi. Các vị Tỳ Kheo vì muốn thấy Phật cúng dường và lễ bái và hỏi con rằng Thế Tôn bao giờ làm lễ Bố Tát ? Lại đến hỏi pháp, lại đến hỏi ý nghĩa! Con như không nghe không thấy họ mà nói rằng sau khi Thế Tôn tịch diệt sẽ có thần thông biến hóa và những kẻ phạm hạnh sẽ ở đời. Con làm sao không sầu, không buồn được.
Sau khi nói lời ấy, Phật bảo Ngài A-Nan rằng :
Nầy A-Nan! Hãy đừng! Hãy đừng sầu khổ! Ta đã vì phạm hạnh mà giảng rộng, dạy khắp đã ở thế gian và vì lợi ích trời người. Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ 400 năm Ca Diếp cùng các đệ tử sẽ khai triển dạy dỗ và hóa độ chúng sanh. Tu hành phạm hạnh lợi ích trời người, Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ. Chánh pháp của ta đang lưu truyền rộng rãi, ở lâu trên đời và sẽ làm lợi ích cho chúng sanh. Nầy A-Nan! Sau khi ta vào Niết Bàn, Tỳ Kheo Ca Diếp cùng với các vị khác sẽ phát tâm, nghe ta mà vân tập vô lượng A Tăng Kỳ Uế Na Do Tha kiếp, vô thượng tam muội tam bồ đề pháp, làm lợi ích việc lành không cho lui sụt. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp vì muốn ít biết đủ, xa rời siêng năng. Vui không quên hẳn. Vui không đùa giỡn mà trí tuệ hiện tiền. Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp sẽ vì đại chúng mà dạy dỗ lợi lạc vậy. Vì phạm hạnh mà thuyết pháp không vì quyền lợi như cha mẹ vậy! Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp sẽ cùng với bốn chúng mà nhìn thế gian một cách lân mẫn. Vì muốn cho lợi ích và an lạc chúng sanh ở cõi trời cũng như người vậy.
Phát tâm như thế rồi, lúc ấy A-Nan bạch Phật rằng :
Kính bạch Thế Tôn! Tỳ Kheo Ca Diếp, phát tâm như thế đó vì lời hứa làm lợi lạc cho trời người.
Phật bảo :
Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp khi nhập Niết Bàn sẽ có lời thệ nguyện rằng :
Nếu ta sau khi diệt độ, thần lực của ta sẽ gia trì làm cho chiếc y quấn nơi thân ta không biến không hoại, lông tóc màu sắc các căn từng loại cũng không biến hoại, cho đến khi nào Đức Di Lặc Như Lai Ứng Chánh Biến Tri xuất thế, làm cho ta thấy được Thế Tôn và gặp ở hội thứ nhứt, thứ nhì và thứ ba. Ủây là do nguyện lực gia trì của ta vậy. Làm cho trăm ngàn chúng sanh, nhiều ngàn vạn chúng sanh, nhiều trăm ngàn ức Na Do Tha chúng sanh được chứng quả Thánh. Nếu Phật Di Lặc thấy thân y của ta không hoại, không đổi và cả 3 hội Thinh Văn cũng đều thấy thân ta không hoại cùng với các căn đều khắp và Cà-Sa rồi, lúc ấy thân ta ở trên không trung, tự thiêu thân ta, thiêu rồi lửa dứt. Nầy A-Nan! Đó là sự phát tâm của Ca Diếp làm lợi ích an lạc cho chúng sanh. Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp! Nhờ nguyện lực như thế mà được gia trì vậy. Sau khi đã thành thục những chúng sanh như thế rồi mới vào Niết Bàn. Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp sau khi vào Niết Bàn có 4 núi đá di chuyển đếnnơi Ca Diếp cùng với thân ấy hợp thành một. Nầy A-Nan! Thân của Ca Diếp ở giữa 4 hòn núi ấy chẳng biến hoại, mãi cho đến khi Di Lặc xuất thế, tùy thời dạy dỗ, thân của Tỳ Kheo Ca Diếp cũng không hoại diệt. Từ y áo Cà-Sa cho đến chỗ ở cũng không bị hoại. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Vì giữ tịnh giới vậy. Vì tu phạm hạnh vậy. Vì kẻ có trí tuệ vậy. Cho nên sở nguyện hay thành. Không giới, không tịnh, không tu phạm hạnh, không trí có muốn cũng khó thành tựu. Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp trước khi phát nguyện gia trì rồi mới vào Niết Bàn. Sau khi vào Niết Bàn rồi, thân của Ca Diếp không bị biến đổi, tóc, máu, thịt và các cơ quan trong người cùng với y phục cũng không biến hoại. Thân cũng không hôi. Cho đến Di Lặc. Nầy A-Nan! Khi Đức Di Lặc ra đời cùng với 96 ức Tỳ Kheo đến nơi Ca Diếp. Nầy A-Nan! Đức Phật Di Lặc vì thân Ca Diếp mà thị hiện 96 ức Tỳ Kheo và ở trong pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai làm bậc Đại Thanh Văn tu hạnh đầu đà, thiểu dục tri túc, siêng năng xa rời. Vui không quên, vui không giải đãi, định huệ hiện tiền. Hay vì chúng sanh mà hiển bày chỉ dạy lợi ích. Vì các bậc phạm hạnh mà thuyết pháp không hề lao nhọc như cha mẹ. Nầy các Tỳ Kheo. Đó là Tỳ Kheo Ca Diếp, ở trong 4 chúng mà thấy xa lìa, không nghi hoặc mà hay tùy thuận chúng sanh. Nầy chư Tỳ Kheo! Hãy xem Ca Diếp vì hay thương tưởng thế gian. Vì sự lợi ích an lạc của tất cả chúng trời người mà phát tâm như vậy. Nầy A-Nan! Di Lặc Như Lai Chánh Biến Tri, hội thứ 2 sẽ cùng với 94 ức các vị Thanh Văn đến chốn nầy và kỳ thứ 3 cùng với 92 ức Thanh Văn đến nơi Ngà Ca Diếp. Nầy A-Nan! Vị Phật Di Lặc kia đã dạy cho 92 ức Tỳ Kheo rằng : Tỳ Kheo Ca Diếp ở trong pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai, là bậc Đại Thanh Văn tu hạnh Đầu Đà hay phát tâm muốn ít biết đủ và vì lợi ích an lạc của tất cả chúng sanh trời người vậy. Nầy A-Nan! Đức Di Lặc Như Lai lúc ấy phóng hào quang nơi tay mặt đến đỉnh đầu Ca Diếp và quan sát nói với các Tỳ Kheo :
Nầy chư Tỳ Kheo! Đây là Tỳ Kheo Ca Diếp: Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ thì tuyên dương giáo pháp ấy rộng sâu, như trong chúng đây không có một người nào như sau khi ta diệt độ mà quảng tuyên giáo pháp của ta như Ca Diếp nầy vậy. Nầy A-Nan! Đó là Tỳ Kheo Ca Diếp, ở 3 hội nơi vị Phật kia vì bổn nguyện mà gia trì vậy. Tại hư không hiện nhiều loại thần thông nhiều loại biến hóa rồi, tự thiêu thân mình. Khi thiêu xong không hiện lại nữa.
Lúc bấy giờ Ngài Di Lặc Phật đã tuyên dương Ngài Ca Diếp rồi cùng với 92 ức Tỳ Kheo mà tuyết pháp cùng với nhiều trăm, ngàn, ức Na Do Tha và trăm ngàn chư Thiên, loài người được chứng thánh đạo. Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp phát tâm lợi ích cho nhiều chúng sanh như vậy. Cũng lại vì phát tâm làm lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh. Như thế đó A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp cùng với sự phát tâm kia và qua 400 năm vẫn duy trì chánh pháp của ta và làm các thần thông biến hóa tu hành phạm hạnh. Vì lợi ích tăng trưởng cho Trời Người vậy.
- Trì Chánh Pháp - Phẩm thứ sáu
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo A-Nan rằng : Hãy đừng sầu khổ! Ta đã hết lòng truyền dạy khắp nơi, đã làm lợi lạc cho Trời Người. Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ tại thành Ma Du La nơi núi Ưu Lầu Mạn Trà có Tăng Già Lam tên là Na Trì Ca và tại đó có vị Tỳ Kheo tên Tỳ Đề Xa, có thần thông lớn và oai sức lớn. Chánh trí đắc đạo, đa văn không sợ. Giữ gìn Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Vì các phạm hạnh mà thuyết pháp giáo hóa lợi lạc không ngừng. Vị đó cũng tạo nên những thần thông, biến hóa, tu hành phạm hạnh. Rộng rãi lưu truyền chánh pháp của ta và vì sự lợi ích của trời người vậy. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Sau khi ta diệt độ, nơi núi Ưu Lầu Mạn Trà, ở Tăng Già Lam Na Trì Ca có Tỳ Kheo tên Đề Tri Ca có đại thần thông cùng oai lực lớn và có phạm hạnh thuyết pháp không ngừng. Hay vì giáo pháp của ta mà tuyên dương giáo hóa không ngừng cho trời người. Nầy A-Nan! Hãy đừng ưu bi nữa. Sau khi ta diệt độ tại nơi núi Ưu Lầu Mạn Trà có núi tên là Ưu Thi La; nơi ấy có 40.000 Tỳ Kheo đang tập họp và hầu như vị nào cũng có thần thông và oai lực lớn, chứng được đạo quả, đa văn vô úy, giữ gìn Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Các vị nầy có thể dùng phạm hạnh của mình để giáo hóa làm lợi lạc thuyết pháp cho chúng sanh, không mỏi mệt. Những vị Tỳ Kheo nầy có thần thông biến hóa, tu hành phạm hạnh. Vì chánh pháp của ta mà rộng nói lưu hành. Họ vì sự lợi lạc của Trời Người mà làm như thế. Nầy A-Nan! Hãy đừng bi lụy! Sau khi ta diệt độ tại núi Ưu Lầu Mạn Trà có Tỳ Kheo tên là Ưu Ba Cúc Đa có đại thần thông và đại uy lực và lại cũng có thần thông biến hóa tu hành phạm hạnh. Vì giáo pháp của ta mà rộng rãi lưu bố để lợi lạc trời người. Nöi đó cũng có một ngàn vị A La Hán. Cùng với 88.000 vị Tỳ Kheo cùng Bố Tát và làm phép Yết Ma. Tâm không khi dối và hay giúp đỡ nhau. Họ là những bậc thần thông biến hóa tu hành phạm hạnh. Vì chánh pháp của ta mà lưu hành rộng rãi. Họ vì lợi lạc của Trời Người mà làm. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ nữa! Ưu Ba Cúc Đa cùng các đệ tử vì giáo pháp của ta mà lưu hành rộng rãi. Vì trời người mà hay thuyết giảng. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Sau khi ta diệt độ, tại thành Ba Ly Phất, có Tăng Già Lam tên là Bạt Đa Ni, nơi đó có vị Tỳ Kheo tên là A Thâu Bà Cúc Đa có 3 minh, 6 thông và 8 giải thoát. Thiền Định Trí Tuệ giải thoát tự tại. Có đại thần thông và oai thế lớn. Vị ấy có đại thần thông biến hóa tu hành phạm hạnh. Vì giáo pháp của ta mà rộng tuyên giải nói tăng ích cho trời người. Nầy A-Nan! Chớ đừng sầu khổ. Sau khi ta diệt độ tại thành Ba Ly Phất có Tăng Già Lam tên là Cüu Cüu Tra có Tỳ Kheo tên là Tước Đa La có đại thần thông và uy lực lớn cho đến có thể biến hóa thần thông tu hành phạm hạnh làm cho giáo pháp của ta được lưu truyền và chánh pháp càng tăng trưởng để lợi lạc trời người. Nầy A-Nam! Hãy đừng sầu khổ nữa! Phạm hạnh của ta đang được lưu truyền. Tất cả đều vì sự lợi lạc của trời người vậy.
Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ tại nước Ương Già có các Thanh Văn vì ta mà làm hội Bàn Già Phạt Sắt, nơi đó có 13.000 vị A La Hán vân tập. Họ đều có tất cả thần thông lớn. Gồm đủ các oai lực và nhiều thậm thâm vi diệu, cho đến các phạm hạnh và thuyết pháp làm lợi lạc quên sanh. Nơi ấy có vị Thượng Tọa tên là Đà Điệu Trà có đại thần thông và oai lực lớn và thậm thâm vi diệu. Vì các phạn hạnh mà nói pháp không mỏi mệt. Vị ấy lại cũng có thần thông biến hóa, tu hành phạm hạnh. Vì chánh pháp của ta mà lưu hành rộng rãi. Tất cả đều vì lợi ích của trời người. Nầy A-Nan! Hãy đừng ưu não! Sau khi ta diệt độ tại thành Kim Bát Tất Đà có 2 vị Tỳ Kheo từ hàng Bà La Môn mà xuất gia, một tên là Tỳ Đầu La, hai tên là Sách Xà Già, các vị đều có thần thông đầy đủ, uy lực thậm thâm. Cho đến việc biến hóa thần thông, tu hành phạm hạnh. Vì giáo pháp của ta mà rộng nói lưu truyền làm lợi lạc cho Trời Người.
Nầy A-Nan! Hãy đừng khóc nữa. Sau khi ta diệt độ tại thành Bà Kê Đa có vị Tỳ Kheo tên là Đại Tinh Tấn có đầy đủ thần thông và uy đức lớn, cho đến việc biến hóa thần thông tu hành phạm hạnh, làm cho giáo pháp của ta rộng rãi lưu truyền lợi lạc nhơn thêm. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Sau khi ta diệt độ có Tỳ Kheo tên Mạt Điền Đề có 3 minh, 6 thông và 8 giải thoát đầy đủ; Thiền Trí 2 phần giải thoát tự tại, có thần thông lớn đầy đủ uy lực cho đến các phạm hạnh, thuyết pháp không mỏi mệt. Tại phía Bắc Ấn Độ, nơi sông Phạt Tân có rất nhiều Rồng, Dạ xoa, Càn Thát Bà v.v... Có thân thể mạnh khỏe, đang ở nơi sông. Khi vị Tỳ Kheo Mạt Điền Đề đến nơi ấy, liền đó các Rồng, Dạ xoa và Càn Thát Bà v.v... đếnchiến đãu. Sau đó Tỳ Kheo Mạt Điền Đề dùng thần thông biến hóa. Dùng pháp để hàng phục Rồng, Dạ xoa, Càn Thát Bà v.v... làm cho chúng phải kính tin. Sau khi làm cho kính tin rồi, ra lệnh cho người tại sông Phạt Tân tạo dựng Chùa Viện cho các Thán Văn và đã có hằng trăm, hằng ngàn Thanh Văn vân tập tại đó.
Nầy A-Nan! Đó là Tỳ Kheo Mạt Điền Đề, vì tất cả mà đến đó để làm việc tốt như thế. Nầy A-Nan! Nếu ta có nói đến hay xưng dương tán tụng công đức vị Tỳ Kheo Mạt Điền Đề kia cho đến bao giờ cũng không thể hết. Nầy A-Nan! Đó là Mạt Điền Đề Tỳ Kheo. Đầy đủ các công đức và hay dùng luật pháp của ta mà tu hành phạm hạnh. Vì trời người mà làm lợi lạc quần sanh. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Sau khi ta diệt độ tại phía Bắc Ấn Độ có nước Càn Đà La, có vị Tỳ Kheo tên là Ca Diếp có đại thần thông và đầy đủ oai lực vô cùng, trí tuệ, chứng đạo, đa văn, không sợ hãi. Giữ gìn Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng cho đến làm cho chánh pháp của ta được lưu hành rộng rãi. Nầy A-Nan! Hãy đừng lo buồn! Sau khi ta diệt độ ở phía Bắc Ấn Độ có một thành tên là Đắc Xoa Thi La, có vị Trưởng Giả tên là Xà Tri Ca, tên vang dội khắp nơi, là bậc giàu có. Có nhiều của quý cùng công đức trí tuệ lớn, đoan chánh khả ái, tướng tốt số một. Ông Trưởng Già Xà Tri Ca kia tin sâu nơi ta và các Thanh Văn, cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen. Từ đó vun trồng căn lành giác ngộ và trải qua sau đó đủ một ngàn kiếp, chứng được quỷ vị Phật. Tên vị Phật ấy là Phổ Quang. Kiếp đó tên là Tạo Hiền. Thế giới ấy tên là Cụ Đại Trang Nghiêm. Nầy A-Nan! Vị Trưởng Giả Xà Tri Ca đó vì chánh pháp của ta mà làm lợi lạc lưu bố rộng ra cho trời người. Nầy A-Nan! Hãy đừng bi lụy nữa! Sau khi ta diệt độ tại miền Bắc Ấn Độ có một vương đô tên là Phú Ca La Phạt Đế. Nhơn dân nơi ấy giàu có an vui. Nơi đó cũng có nhiều các vị Trưởng Giả Bà La Môn và Cư Sĩ. Tùy thuận theo kinh điển, tin sâu nơi ta và các Thanh Văn, cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen. Vị ấy có nhiều đệ tử Thanh Văn, có đại thần thông và uy lực rất lớn. Nầy A-Nan! Vị đó cũng có nhiều Trưởng Giả Cư Sĩ chánh trí chứng đạo và không sợ hãi. Có đầy đủ trí huệ. Nầy A-Nan! Tại Vương đô Phú Ca La Phạt Đế kia cũng có các vị tại gia áo trắng, sau khi mất họ được sanh về cõi trời Đẩu Suất. Còn các vị xuất gia thì phải đọa địa ngục. Vì sao vậy ? Vì họ không giữ gìn giới và hành trì luật nghi vậy. Nầy A-Nan! Tại Vương đô Phú Ca La Phạt Đế kia cũng có các Bà La Môn Trưởng Giả Cư Sĩ nữa, liền niệm lên rằng : Chánh pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni đương đi xuống. Vì sao vậy ? Vì các Tỳ Kheo vì sợ sự lợi dưỡng và tăng thêm lòng tham, không gìn giữ cấm giới, tâm hay tán loạn, không vui sống nơi núi rừng, xa rời thiền định; cùng với tứ chúng đến lui phá hoại giới luật. Cùng với các vị Bà La Môn, Trưởng Giả Cư Sĩ cũng vậy. Vì chỗ thân tình qua lại, không tương kính nhau. Ăn uống biếu xén hoa quả với nhau, không nương vào giới luật, không giữ giới dân cùng với phụ nữ. Các vị Bà La Môn Trưởng Giả Cư Sĩ nầy thấy nghe các Tỳ Kheo làm việc phi pháp ấy tâm sanh lo sợ, não phiền nên nói lời rằng :
Giáo pháp của Phật đã tàn lụn rồi! Lúc bấy giờ họ về lại Vương đô Phú Ca La Phạt Đế, lúc ấy có vị Ưu Bà Tắc tên là Pháp Tăng, có đại thần thông, có thế lực và phước đức to lớn, chánh trí chứng đạo, đa văn không sợ, trì giữ Kinh điển, Luận tạng một cách linh động. Vị Ưu Bà Tắc ấy vì muốn làm cho các Bà La Môn Trưởng Giả Cư Sĩ ấy sanh tín tâm liền phóng lên hư không, chỉ bày lợi ích và nói lời rằng :
Nầy chư vị! Hãy khoan lo sợ nghi ngờ! Vì lẽ giáo pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni vẫn còn ở đời. Hãy phát tâm tinh tấn làm các nghiệp lành; kẻ nào chưa chứng sẽ chứng, kẻ nào chưa được sẽ được, kẻ nào chưa thành sẽ thành. Chánh pháp nay vẫn còn đó hãy phát tâm nhanh lên. Lúc ấy các vị Bà La Môn, Trưởng Giả Cư Sĩ tân hồn hoan hỷ mà làm việc bố thí và tạo các công đức, vì ta mà trong sức xá lợi để tu hành và khuyến tấn các Thanh Văn cúng dường, nghe hiểu, thọ trì, đọc tụng rồi chuyển ra nói pháp. Thọ trì cấm giới, khuyên tu thiền định. Các vị Bà La Môn Trưởng Giả Cư Sĩ họ được tăng trưởng lợi lạc vui mừng. Tất cả đều vui nơi đường lành av2 đường vào Niết Bàn. Nầy A-Nan! Vị Ưu Bà Tắc kia hay vì giáo pháp của ta mà nói rộng cho trời người được lợi lạc. Như thế đó A-Nan! Sau khi ta diệt độ có nhiều người thế tục giàu có vì pháp của ta mà tin sâu và chứng đắc và họ đã từ trong vô lượng kiếp đã cúng dường hằng trăm hằng ngàn chư Phật, trồng các thiện căn và vì Xá Lợi của ta mà trang nghiêm tu hành như thế và các Thanh Văn cúng dường cung kính tôn trọng, tán thán. Nầy A-Nan! Họ cũng vì giáo pháp của ta mà lưu hành rộng rãi làm lợi ích cho trời người.
Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ, đến đời sau về phía Bắc Ấn Độ có Tỳ Kheo tên là Kỳ Bà Ca ra đời. Vì trong đời quá khứ vô lượng chư Phật đã trồng căn lành, cúng dường cung kính, tin sâu đầy đủ, ở yên trong pháp Đại Thừa và cũng vì muốn cho các chúng sanh được an ổn lợi lạc; nên đã phát tâm đa văn, giữ Bồ Tát tạng, xưng dương Đại Thừa và làm cho Đại Thừa phát triển. Vị Tỳ Kheo nầy khi thấy tháp miếu Xá Lợi của ta bị phá hoại liền sửa sang tu bổ, dùng vàng để trang trí và lập nên tràng phan, bảo cái, chuông linh phát ra những âm thanh vi diệu cùng tạo ra rất nhiều hình tượng và tháp miếu Như Lai mà những tháp miếu nầy đều trang nghiêm bằng hình bán nguyệt sư tử. Làm cho trời người sanh tâm vui mừng. Vì muốn đầy đủ căn lành giác ngộ nên đã thương tưởng chúng sanh, hộ trì dưỡng dục, giữ gìn các pháp của ta. Vì những kẻ không có tín tâm làm cho tăng lòng tin và cũng đã làm cho sinh ra nhiều căn lành, tạo nên hội Bàn Già Phạt Sắt Ca.
Nầy A-Nan! Đương lúc giờ có nhiều Tỳ Kheo chẳng giữ cấm giới, làm nhiều phi pháp; không vui ở nơi rừng vắng lại hay xa rời thiền định. Phá giới, sai đạo và hay cãi vã, tham chứa của cải, riêng chiếm một phòng, cùng với người thế tục hỗ tương qua lại xa rời Phật Pháp. Với các phạm hạnh không sanh kính trọng mà hình thức là một Sa Môn. Lúc ấy có rất ít Tỳ Kheo siêng năng tinh tấn, xa rời nơi ồn náo và chỉ nhứt tâm về thiền định, ở yên trong pháp lành muốn ít biết đủ, vui tu khất thực. Ở yên trong dòng giống Thánh, nghe nhiều không sợ hãi. Trì Kinh giữ Luật và đọc tụng Luận tạng. Lúc bấy giờ Na Bà Ca Tỳ Kheo vì các Tỳ Kheo khác mà mặc áo Cà-Sa, dùng tâm nhu hòa, các căn không ngại, đầy đủ tin sâu, kỉnh trọng thứ nhứt. Khi mặc áo Cà-Sa như thế liền khởi tâm giữ giới, làm ruộng phước, hành bố thí, tu các căn lành. Na Bà Già Tỳ Kheo sau khi tu tập vô lượng các loại giác ngộ và trồng căn lành rồi, lúc ấy mệnh chung, sanh sang Tây Phương hơn trăm ngàn ức thế giới chư Phật gọi là nước Vô Lượng Thọ. Tại nước Phật kia cũng trồng những căn lành qua 80 ức đời chư Phật vẫn tu phạm hạnh. Do căn lành nầy mà đời sau qua 99 ức kiếp mới thành chánh giác. Tên Phật là Vô Cấu Quang. Thế giới tên là Nhứt Thiết Công Đức Trang Nghiêm. Nầy A-Nan! Na Bà Ca Tỳ Kheo kia vì giáo pháp của ta mà rộng nói lưu bố lợi lạc trời người.
Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Phạm hạnh của ta đương làm cho trời người vui tin theo. Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ đời vị lai ở nước bên cạnh, nước tên là Nhựt Xá Ma. Vua của nước kia tên là Đại Thí, vì pháp của ta mà sinh tín tâm vì Xá Lợi và Thanh Văn của ta mà khuyến khích cúng dường xưng dương tán thán. Nầy A-Nan! Vua Đại Thí kia tập hợp các vị Thanh Văn và các Tỳ Kheo tại nước Xá Ma để tôn trọng cúng dường. Nöi ấy có 3.000 A La Hán. Tất cả đều có thần thông, công đức uy lực, cho đến vì phạm hạnh mà thuyết pháp không mỏi mệt. Nầy A-Nan! Họ cũng vì chánh pháp của ta mà rộng nói lưu hành lợi lạc trời người.
Nầy A-Nan! Hãy đừng bi lụy! Sau khi ta diệt độ, ở phía Bắc Ấn Độ có thành tên là Hưng Cừ Vị Đán Na; nơi ấy có được Xá Lợi của ta và tôn trọng cúng dường. Hoa vòng hương xông, hương bột, âm thanh, kỹ nhạc, tràng phan bảo cái, y phục, đồ nằm tất cả đều bằng vàng bạc dùng để trang nghiêm. Nầy A-Nan! Lúc ấy tại Tịnh Xá có nhiều người phát tín tâm mà xuất gia, thọ trì giới cấm, tu hành pháp lành. Những người thế tục cũng tu hành các pháp lành rất nhiều khó tính. Nầy A-Nan! Họ là những người giữ giới, đa văn, có trí tuệ, từ trong pháp của ta mà được lòng tin thanh tịnh. Vì Thanh Văn và Xá Lợi của ta mà khuyến tu trang sức để cúng dường và vì Phật Pháp Tăng mà cúng dường gia hộ. Vì căn lành nầy mà thọ phước báo trong cõi trời người vậy, chứng được A Nậu Đa La tam miệu tam bồ đề. Có kẻ chứng được Duyên Giác thừa, có kẻ được Thanh Văn thừa mà vào Niết Bàn vậy. Nầy A-Nan! Họ tuần tự như thế mà cúng dường, chứng được các thần thông oai lực. Nầy A-Nan! Vì những người nầy mà khai thị diễn nói. Vì sự lợi ích chánh pháp của ta mà lưu hành diễn nói rộng rãi.
Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Giáo pháp của ta sẽ được lưu truyền rộng rãi làm lợi ích cho trời người. Nầy A-Nan! Xá Lợi của ta và hình tượng của ta còn ở Diêm Phù Đề, làm sao mà người ta không thấy được. Cho nên Trời, Rồng, Dạ Xoa, La Sát, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Cưu Bàn Trà v.v... tại trong cung điện lại tạo hình tượng. Nầy A-Nan! Hãy đừng bi lụy! Giáo pháp của ta đang được chư Thiên, loài người gìn giữ lưu hành rộng rãi.
Phẩm Xá Lợi thứ bảy
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo A-Nan rằng :
Sau khi ta diệt độ, nếu có người con trai tốt, người con gái lành nào, hoặc tại gia, hoặc xuất gia cho đến cúng dường Xá Lợi của ta như hạt cải chẳng hạn và tỏ lòng cung kính tôn trọng khiêm cung cúng dường thì ta nói rằng người nầy có căn lành và tất cả sẽ chứng quả Niết Bàn cũng như vào nơi Niết Bàn an lạc. Nầy A-Nan! Nếu sau khi ta diệt rồi, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào phát tâm kính tin vì ta mà tạo lập hình tượng cũng như tháp miếu, thì nầy A-Nan! Sẽ có tín tâm sâu rộng đừng ngại kỵ gì. Ta nói rằng người nầy đã trồng căn lành và tất cả đều được quả Niết Bàn cũng như chứng Niết Bàn. Nầy A-Nan! Cho đến hiện tại cúng dường ta, cho đến sau khi ta diệt độ cúng dường hạt cải và Xá Lợi hoặc kẻ tạo hình tượng ta cho đến tháp miếu. Nầy A-Nan! Nếu có kẻ có tâm với công đức niệm Phật hoặc dùng một cành hoa thảy vào hư không, ta nói người nầy đã có căn lành, tất cả đều được Niết Bàn quả và vào vô tận Niết Bàn. Nầy A-Nan! Hoặc có kẻ thấy thần thông oai lực của Thế Tôn mà cúng dường, cho đến dùng hoa rải vào hư không; ví dụ như thế cũng chứng quả Niết Bàn. Hà huống là thân cận thừa sự Như Lai để cúng dường như thế và cho đến người sau khi ta diệt độ cúng dường Xá Lợi vậy. Nầy A-Nan! Cảnh giới của chư Phật không thể nghĩ bàn. Nếu có người hay phát tâm cúng dường thì sẽ được phước đức lại cũng khó có thể nghĩ bàn được. Nầy A-Nan! Nếu có người niệm Phật cho đến rải một bông hoa và không trung, ta dùng tri kiến Phật để thấy rằng người nầy được quả báo bất khả tư nghì, hãy tin như vậy! Hà huống về sau có Phật Tử có lòng tin sâu và cung kính suy nghĩ cầu trí tuệ Phật.
Lúc ấy ngài A-Nan nghe Phật nói rồi liền ghi nhớ phát tâm hoan hỷ và bạch Phật rằng :
Hy hữu Đức Bà Già Bà! Hy hữu Đức Tu Già Đà! Nay là đúng lúc! Duy nguyện Thế Tôn! Ngài đã nói việc niệm Phật cho đến rải một cành hoa cúng dường vào không trung, kẻ ấy sẽ được quả báo lành. Các Tỳ Kheo sau khi nghe Phật nói đều thọ trì đọc tụng và được quả lân mẫn thế gian, làm lợi ích cho trời người vậy. Kể từ đời nầy cho đến đời sau nếu có chúng sanh nào nghe được điều nầy mà trồng nhiều căn lành, tâm sinh kính tín được đại hoan hỷ. Người đó nghĩ rằng : Thích Ca Mâu Ni! Ngài là bậc vô thượng pháp vương, có lòng từ bi lớn trong dòng họ Thích, vì cứu độ thế gian khuyến dụ chúng con phát tâm tinh tấn niệm Phật.
Nói lời ấy rồi, Phật bảo A-Nan! Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe! lành thay! Ta nay sẽ phân biệt giải nói về các quả báo đây.
A-Nan bạch rằng : Như vậy Thế Tôn! Chúng con xin nghe.
Phật bảo A-Nan : Nếu có chúng sanh phát tâm niệm Phật cho đến rải một cành hoa vào không trung, phước đức ấy sẽ được quả báo khó thể nghĩ bàn vô cùng tận. Nầy A-Nan! Các chúng sanh từ đây về sau kiếp số dài ngắn, sanh tử lưu chuyển không thể biết hết được, mà kể cả đời sau cũng lại như vậy. Nếu có chúng sanh chí thành niệm Phật công đức cho đến rải hoa và không trung thì ngày sau sẽ làm được Thích Thiên Vương, Phạm Thiên Vương và Chuyển Luân Vương, phước báo như vậy sẽ không cùng tận. Với thiện căn ấy phước báo không có ngằn mé và không cùng tận vậy. Nhưng phải vào Niết Bàn. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Dụ như phước điền của chư Phật không có quả báo cùng tận. Ta nói rằng người nầy sẽ được Niết Bàn và chứng quả rốt ráo. Nầy A-Nan! Chỉ do việc thân cận cúng dường ta vậy. Ví như cúng dường ta bằng hạt cải hay Xá Lợi, hoặc vì ta mà tạo hình tượng tháp miếu rồi cúng dường, cũng giống như kẻ niệm Phật cho đến rải một cành hoa vào không trung. Lại cũng có người tại nơi phòng riêng chí tâm niệm Phật cho đến rải hoa và hư không. Nầy A-Nan! Ta nói người nầy sẽ được Niết Bàn, được Niết Bàn đệ nhứt. Nhập vô dư Niết Bàn, tối thắngNiết Bàn, Niết Bàn vi diệu, thanh tịnh Niết Bàn, an trụ Niết Bàn. Nầy A-Nan! Đấy là nhơn duyên! Trong các phước điền thì Phật là vị vua trên hết. Vì sao vậy ? Phước điền của Phật nghĩa là không phải quả báo của thế gian mà đây là một nhân duyên mà phước điền Phật là đệ nhứt phước điền vậy. Nầy A-Nan! Chư Phật Như Lai thuận theo chánh đạo, hay làm việc vô thượng cứu cánh phước điền. Phước điền Phật có nghĩa là tất cùng Niết Bàn, được đệ nhất Niết Bàn. Nầy A-Nan! Ngay các việc rải hoa cúng Phật cũng là một công đức. Nếu có người nào có tâm niệm Phật và một đời kính tin thì ta nói rằng kẻ đó sẽ được quả báo Niết Bàn vô cùng tận. Nầy A-Nan! Đây là công đức niệm Phật ở trong loài người. Nếu có súc sanh nào đó mà có thể nhớ nghĩ đến Thế Tôn, ta cũng nói rằng đây là thiện căn phước đức vậy. Cũng sẽ chứng quả Niết Bàn.
Nầy A-Nan! Nay ta đương quán chư Phật Thế Tôn cùng các chúng sanh tạo phước điền và hay làm cho chúng sanh chứng được thần thông uy lực. Cho nên A-Nan! Hãy đứng sầu khổ! Nếu có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào cho đến súc sanh và các chúng sanh khác từ Phật mà sanh tín tâm, phải biết rằng sẽ được thần thông quả báo và công đức rộng lớn. Ví như Cam Lồ trong các Cam Lồ và Cam Lồ cao quý nhất. Nầy A-Nan! Từ thân khẩu của Như Lai, tâm vô lượng an lạc không hai; không sân, không hận, không có lo sợ. Nầy A-Nan! Nếu có 3 ngàn đại thiên thế giới trong đó có đày Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Nan Hàm và A La Hán. Lại như cây mía, cây trúc, hoặc gai hoặc cỏ hoặc có người con trai lành, người con gái tốt nào, hoặc một kiếp hoặc giảm một kiếp, tất cả đều đầy đủ hoan hỷ, cung kính tôn trọng khiêm cung cúng dường. Nầy A-Nam! Vì sao vậy ? Người con trai và con gái nầy được phước đức nhiều không ?
A-Nan thưa : Nhiều lắm Bà Già Bà! Nhiều lắm Tu Già Đà.
Phật bảo : Nầy A-Nan! Lại có người từ nơi chư Phật mà chắp tay xưng danh hiệu thì phước đức nầy so với phước đức trước là trăm phần chưa được một, số phần chưa được một, Ca-la phần chưa được một. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Phước điền của Như Lai trong các phước điền là vô thượng. Vì sự cúng dường chư Phật đó mà thành công đức lớn, thần thông oai lực. Nầy A-Nan! Trong tam thiên đại thiên thế giới nơi có Thanh Văn A La Hán hoặc trong ba ngàn đại thiên thế giới đầy Bích Chi Phật giống như mía, trúc, gai, cỏ v.v... hoặc kẻ thiện nam người thiện nữ hoặc một kiếp, hoặc giảm một kiếp. Vì tất cả đều sinh tâm hoan hỷ vậy. Cung kính tôn trọng khiêm cung cúng dường Bích Chi Phật. Sau khi vị Bích Chi Phật kia tịch diệt rồi nổi lên bảy tháp báu, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cho đến dùng các thứ hương hoa, dầu thơm, y phục, ngoại cụ, bảo cái, tràng phan để cung kính tôn trọng khiêm cung cúng dường. Nầy A-Nan! Thì phải biết rằng người nầy được phước đức nhiều chăng ?
A-Nan thưa : Nhiều lắm Bà Già Bà! Nhiều lắm Tu Già Đà.
Phật bảo : Nầy A-Nan! Nếu lại có người, từ chỗ Như Lai mà khởi tâm tin tưởng thanh tịnh, suy nghĩ giải nói và tuyên bố rằng : Trí tuệ chư Phật không thể nghĩ bàn. Lời giải nói nầy là công đức căn lành, so với sự cúng dường phía trước cho Bích Chi Phật thì công đức ấy trong Ca La phần chỉ được một cho đến trong Ưu Bà Ni Sa Đà phần chỉ được một. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Chư Phật Thế Tôn vô lượng đại từ, vô lượng đại bi, vô lượng giới, vô lượng tịnh, vô lượng huệ, vô lượng giải thoát, vô lượng giải thoát tri kiến, vô lượng tu tập, vô lượng đạt chứng. Nầy A-Nan! Trí tuệ của chư Phật khó thể nghĩ bàn, cảnh giới của chư Phật cũng khó thể nghĩ bàn. Nếu có cúng dường cũng khó thể nghĩ bàn, sẽ được quả báo cũng khó nghĩ bàn. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Ta nay đã được thần thông lớn và làm lợi ích rồi. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Thân khẩu ý tu lành, đã cúng dường cho ta hơn 20 năm và đã nắm giữ của ta 84.000 các pháp bảo cũng là đa văn đệ nhứt, dùng phương tiện mà đối đáp, sẽ chánh trí được đạo, đa văn không sợ hãi. Giữ gìn Kinh Luật và Luận vì 4 chúng mà thuyết pháp không mỏi mệt.
Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ rồi hãy cùng với Đại Đức Ma Ha Ca Diếp và vị nầy sẽ làm tối đại Đạo Sư để làm những Phật sự. Nầy A-Nan! Hãy đừng khóc nữa! Ta đương được đại thần thông công đức lợi ích đây. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.( MHDT ).30/4/2012.

Kinh Bổn Sự

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 17 thuộc Kinh tập quyển thứ 14, từ trang 662 đến trang 699, tổng cộng 37 trang, thuộc kinh thứ tự số 765 do Ngài Huyền Trang dịch sang Hán văn đời nhà Đường.
Thích Như Điển dịch ra tiếng Việt tại Anh quốc, dưới thời Nữ hoàng Elisabeth, tại địa phương Wymondham, từ ngày 22 tháng 7 đến ngày 31 tháng 7 năm 2002. Và phần còn lại dịch tại chùa Viên Giác - Đức quốc, từ ngày 6 đến ngày 23 tháng 8 năm 2002.
Quyển thứ nhất
Phẩm Pháp thứ nhất
Phần Một
Ta nghe từ Đức Thế Tôn rằng: Tỳ Kheo nên biết - khi ta quán sát thế gian, không có pháp nào sai biệt, làm chướng ngại cho chúng sanh, bị trôi lăn trong vòng sanh tử, như lớp vô minh, cho nên tất cả chúng sanh bị cái màn vô minh nó làm chướng ngại ngăn che tất cả, rồi cứ sanh tử tử sanh triền miên như vậy. Cho nên phải biết; nên học như thế. Ta vì sao tu hành được phát sinh trí tuệ, phá được vô minh, xa rời sự bó buộc của ái nhiễm. Nầy các Tỳ Kheo! Phải biết thế nầy. Lúc ấy Đức Thế Tôn nhiếp tâm vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Chẳng có một pháp nào
Không chướng ngại chúng sanh
Bị rơi vào sanh tử
Như vô minh che lấp
Vô minh tối tăm lớn
Do lưu chuyển dài lâu
Ta đây nay đến đi
Lên cao hoặc xuống thấp
Nếu phá được vô minh
Giải thoát lưới tham ái
Chẳng rơi vào sanh tử
Không gây ra nguyên nhân.
Ta đã nghe được từ Đức Phật nói rằng: Các Tỳ Kheo nên biết khi ta xem thế gian, chẳng có pháp nào mà không trói buộc chúng sanh, làm cho chúng sanh bị lưu chuyển trong sanh tử dài lâu, giống như tham ái nối kết lại. Vì sao vậy ? Chúng sanh trong thế gian, do dây tham ái nối kết chằng chịt, cho nên phải bị lưu chuyển trong đường sanh tử dài lâu. Cho nên phải biết quán sát như thế. Ta đã phải tu hành như thế nào để có được con dao trí tuệ nhằm đoạn trừ sự nối kết tham ái kia, để phá đi những mờ ám ? Nầy các Tỳ Kheo! Phải nên biết rằng: Lúc ấy Đức Thế Tôn chú tâm vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Chẳng có một pháp nào
Không trói buộc chúng sanh
Sanh vào vòng sanh tử
Như tham ái trói buộc
Dây tham ái chằng chịt
Do vậy sanh tử dài
Làm cho đến hoặc đi
Sinh cao hay đọa thấp
Muốn đoạn tham ái nầy
Phá trừ màn vô minh
Chẳng rơi vào sanh tử
Nên không nhơn sinh ra.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy: Các Tỳ Kheo phải nên biết! Nếu có một hữu tình trong một kiếp số lưu chuyển sanh tử, do tham thân nầy, giả sử thường hay chứa nhóm các điều sai quấy. Sự chứa nhóm ấy cao dần giống như núi Tỳ Bổ La tại thành Vương Xá, huống nữa là chúng hữu tình, chẳng đầu không cuối, bị lưu chuyển sanh tử mãi mãi như thế, do yêu thân nầy, làm sao tính được. Cho nên phải biết! Các Tỳ Kheo phải biết ta nói về loài có tình nầy không hiểu về tứ thánh đế, cũng chẳng quán sát bên trong, cũng chẳng thông suốt, chẳng phân biệt; nên mãi mãi bị lưu chuyển trong vòng sanh tử, thọ lãnh nhiều thân khác nhau. Cho nên phải biết, phải hiểu như vậy. Ta đã nói về tứ thánh đế như thế nào, hãy quán chiếu như thế để biết. Nếu nay quán chiếu rồi, sẽ đi đến chỗ cứu cánh. Nầy các Tỳ Kheo! Hãy học như thế. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn, sâu nhiếp nghĩa nầy, liền nói kệ rằng :
Loài hữu tình mỗi kiếp
Thọ thân nhiều chẳng dứt
Chất chồng dần dần cao
Như núi Tỳ Bổ La
Chẳng có đầu có sau
Lưu chuyển trong sanh tử
Nên thọ nhiều thân hình
Không thể tính đếm được
Thọ lãnh nhiều nỗi khổ
Do chẳng gần Thánh Đế
Lại chẳng tu diệu trí
Chẳng quán bốn chân lý
Cho nên khổ không dừng
Khổ nhân và khổ quả
Hay diệt nguyên nhân khổ
Tám phần của Thánh Đế
Đây Bổ Đặc Già La (*)
Đến bảy lần lưu chuyển
Kết thành nhiều mắc xích
Chưa dứt các nỗi khổ.
(*) Pugala còn gọi là Phú Đặc Ca La nghĩa là người bỏ thân trời nhập vào thân người và bỏ thân người đi vào thân súc sanh
Ta nghe từ Đức Thế Tôn như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Ta lấy Phật nhãn quán chiếu thế gian, tất cả là kết quả của nghiệp, đều do tâm ý tạo thành. Tất cả các loại hữu tình, đều do tâm ý sai khiến, làm các việc làm, đi vào các đường, thân hoại mệnh chung, như bỏ gánh nặng, sanh vào địa ngục. Vì sao như thế ? Những chúng hữu tình kia, tâm ý bị ô nhiễm. Do nguyên nhân nầy, thân hoại mệnh chung, đọa vào ác thú. Lúc ấy Đức Thế Tôn, sâu vào nghĩa nầy, liền nói bài kệ :
Mỗi loại của hữu tình
Tâm ý khởi nhiễm ô
Ta nay nói cho biết
Tùy theo nơi mà sanh
Thân kia khi mệnh chung
Như bỏ một gánh nặng
Tất đọa vào ác thú
Sanh vào trong địa ngục
Nên biết người ác ấy
Do tâm ý nhiễm ô
Nhơn vì nhiễm ô nầy
Mà rơi vào địa ngục.
Ta từ Đức Thế Tôn nghe rằng : Nầy các Tỳ Kheo! Ta dùng Phật nhãn quán chiếu thế gian, tất cả quả nghiệp, đều duyên vào tâm ý. Mỗi loại hữu tình, do tâm ý sai khiến, làm những việc làm, đi vào các đường, thân hoại mạng chung, như bỏ gánh nặng, lên các đường lành, sanh vào chư thiên. Tại vì sao vậy ? Các loài hữu tình kia vì tâm ý thanh tịnh. Do nguyên nhân nầy, thân hoại mạng chung, sanh vào đường lành, sanh vào thiên giới. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn, sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Mỗi loại trong hữu tình
Tâm ý khởi thanh tịnh
Ta nay vì các ngươi
Giảng rõ việc sanh nầy
Thân kia khi mệnh chung
Như bỏ đi gánh nặng
Tức vào các đường lành
Sanh vào nơi thiên giới
Nên biết kẻ lành nầy
Do tâm ý thanh tịnh
Nguyên nhơn thanh tịnh nầy
Nên sanh vào thiên giới.
Ta nghe từ Đức Thế Tôn nói như thế nầy : Các Tỳ Kheo nên biết! Tất cả các loài hữu tình đều do nghiệp lực. Nghiệp như người bạn, nghiệp sanh vào nhà, nghiệp làm quyến thuộc, nghiệp làm chỗ tựa, nghiệp hay phân định. Tất cả các loài hữu tình, trên dưới hết thảy, tất cả như thế phải nên biết rằng : Các nghiệp là tánh, các nghiệp là nhân duyên, các nghiệp nhiều loại, các nghiệp sai khác, các nghiệp hết sạch, các nghiệp diệt rồi, làm chỗ nhơn duyên. Tỳ Kheo nên biết! Như ta đã nói, hãy cố lắng nghe, hiểu như thế nào về nghiệp và tự tánh của nghiệp. Hoặc là nghiệp riêng hay là nghiệp dĩ, như thế phải biết là nghiệp tự tánh. Khi biết là tự tánh của nghiệp rồi, vì sao phải biết cái nghiệp do nhân duyên tạo nên ? Vì các tham ái gây ra; nên tạo thành những nhân duyên vậy. Phải nên biết rằng tự tánh của các nghiệp đều do nhân duyên mà tạo ra vậy. Làm sao để biết những loại nghiệp ? Các loại nghiệp nghĩa là do tạo tác thân đọa vào địa ngục có nhiều loại khác nhau. Có loại do nghiệp sanh vào bàng sanh. Có loại do nghiệp sanh vào ngạ quỷ. Có loại do nghiệp sanh vào A Tu La. Có loại do nghiệp sanh lên làm người. Có loại làm chư thiên. Như thế phải biết nghiệp có nhiều loại như vậy. Phải nên biết về tự tánh của các nghiệp. Biết được nhân duyên của các loại nghiệp rồi, làm sao có thể biết được sự sai biệt của các nghiệp ? Nghiệp dị thục có nghĩa là đời nầy tạo tác các nghiệp rồi sanh lại đời nầy, hay cảm các loại, hoặc sanh đời khác. Như thế nên biết là nghiệp sai khác. Nghĩa là đều do tự tánh của nghiệp, các nhân duyên của nghiệp, các phẩm loại của nghiệp và các sai khác của nghiệp.
Làm sao để biết các nghiệp tận diệt ? Nghĩa là các ái diệt rồi, các nghiệp sẽ diệt. Như thế nên biết là nghiệp tận diệt. Phải biết rằng các nghiệp đều do tự tánh, đều do nhân duyên, đều do phẩm loại, đều do sự sai khác mà tận diệt vậy. Thế nào là nhân duyên của nghiệp làm vật của riêng ? Kẻ mà có nhân duyên vào con đường đạo, có nghĩa là trong Bát Chánh Đạo có đầy đủ. Đó là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mệnh, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Như vậy nên biết đây là những nhân duyên tạo nên con đường cao cả. Các Tỳ Kheo nên biết! Cùng các Sa Môn hoặc các Bà La Môn, nếu hay hiểu biết các tự tánh của nghiệp hoặc nhân duyên các nghiệp, hoặc các loại nghiệp, hoặc sự sai biệt của nghiệp, hoặc sự tận diệt của nghiệp, hoặc con đường tận diệt, hoặc nhân duyên cốt cán, tức hay tin vào pháp Tỳ Nại Da (Vinaya, nghĩa là luật, giới luật) của ta. Nếu hay tin vào giới luật của ta, tức hay nhập vào pháp giới của giới luật. Nếu hay nhập vào giới luật của ta, tức hay đạt thành pháp giới luật, tu hành phạm hạnh, tức hay cứu cánh, làm hết các nghiệp. Vì sao vậy ? Nầy các Sa Môn! các Bà La Môn! Phải biết tự tánh của các nghiệp nầy, các nghiệp nhơn duyên, các loại nghiệp, các nghiệp sai khác, các nghiệp tận diệt, các nghiệp lành, các nghiệp căn bản rồi. Tức các nghiệp nầy, xa rời ác thú, cứu cánh giải thoát, được thiện giải thoát, tức thiện giải thoát, tức hay độc lập, tức được phép lành, tức đủ phép lành. Thân kia chết đi như pháp nầy tất cả khó tạo thành. Lúc ấy Đức Thế Tôn, sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Thế gian các hữu tình
Ở trước hay ở sau
Tất cả đều do nghiệp
Nghiệp giống như người bạn
Nghiệp làm chỗ phát sanh
Nghiệp làm kẻ quyến thuộc
Nghiệp làm chỗ nương tựa
Nghiệp hay chia ba loại
Tùy nghiệp mà sanh ra
Bất định như bánh xe
Hoặc ở trong trời người
Hoặc ở nơi bốn đường
Thế gian các hữu tình
Đều do nghiệp lực chuyển
Chẳng tiền của vợ con
Tùy nơi sanh hoặc chết
Khi đến lúc lâm chung
Tất cả đều phải bỏ
Tùy theo nghiệp mà sanh
Tất cả đều do nghiệp
Vị lai các hữu tình
Như thế mà thọ nghiệp
Nếu hay y lời Phật
Chánh tín để xuất gia
Các ngu si loại ấy
Chẳng Thầy được khai mở
Tên là làm việc lành
Chẳng ngu mà chánh pháp
Cho nên các Tỳ Kheo
Siêng năng chớ buông lung
Phải biết rằng các nghiệp
Liên tục để tu hành
Tự tánh nghiệp dứt rồi
Ngay cả nghiệp nhơn duyên
Tu tám phần Thánh Đạo
Khó liền được viên mãn.
Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy : Nầy các Tỳ Kheo! Hãy nên biết rằng thế gian có các việc ác,chẳng có pháp lành. Lúc mới sanh ra những việc không lành, những loại không lành, tất cả đều do ý dẫn đầu, cho nên ý sanh khởi vậy. Các thiện pháp chẳng lành sanh theo sau đó. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Các bất thiện pháp sanh
Vì nguyên do cảm thọ
Do ý làm đầu đề
Cùng phiền não sanh ra
Ý dẫn đầu như vậy
Ý bị ý sai khiến
Do ý bị nhiễm ô
Cho nên nói có làm
Khổ theo đây mà sanh
Như bánh nhân đây lăn.
Ta từ Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trong thế gian có pháp sáng trong đẹp đẽ, khi mới sinh ra có bạch tịnh thiện pháp, sau đó sanh tiếp. Lúc ấy Đức Phật sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Các thiện pháp khi sanh
Bởi vì hay cảm lạc
Do ý chí dẫn đầu
Cùng thiện pháp sanh ra
Ý là pháp đi đầu
Ý khiến ý sai sử
Do ý có thanh tịnh
Lại hay nói về hành
Vui từ đó mà sanh
Như ảnh theo hình vậy.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Thế gian có pháp khi khởi sanh ra cùng các chúng sanh khác, chẳng làm lợi ích, thọ những khổ lớn. Thế nào là một pháp ? Đó là việc phá Tăng. Cho nên các Tỳ Kheo nên biết! Nếu phá hoại Tăng, tất cả mọi người lẫn đến tranh luận, hoặc hay nói lén, hoặc hay lăng mạ, hoặc hay tìm tòi, hoặc hay thêm bớt, hoặc hay giận hờn, hoặc hay não xúc, hoặc hay tức giận, hoặc hay phỉ báng, hoặc hay rúng rẩy thì lúc ấy tất cả thế gian đều là những người chưa có lòng tin; nên không sinh kính tín. Đã không tin rồi, lại chẳng kính trọng. Các Tỳ Kheo nên biết! Như thế đó có tên là một pháp. Lúc phát sanh ra cùng các chúng sanh, làm điều chẳng lợi ích, chẳng an lạc, dẫn các thế gian trời người và đại chúng làm những việc chẳng có ý nghĩa, thọ các quả khổ. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Thế gian sinh một pháp
Hay sinh nhiều tội ác
Nếu mà phá hoại Tăng
Kẻ ngu si tùy hỷ
Kẻ phá Tăng hay khổ
Phá Tăng hay bị khổ
Tăng hòa hợp bị hoại
Qua nhiều kiếp vô gián.
Ta từ Đức Thế Tôn có nghe được rằng: Các Tỳ Kheo nên biết! Thế gian có một pháp sau khi sanh ra cùng với tất cả chúng sanh. Vì lợi ích của chúng sanh, vì sự an lạc của chúng sanh, dẫn các thế gian, trời người đại chúng, làm lợi ích lớn, tạo quả an lạc. Những gì là một pháp ? Đó là Tăng hòa hợp. Cho nên các Tỳ Kheo nên biết! Nếu Tăng hòa hợp, tất cả đại chúng chẳng có tranh luận, chẳng có nói lén, chẳng hay lăng mạ, chẳng hay tìm tòi, chẳng hay thêm bớt, chẳng hay giận hờn, chẳng hay xúc não, chẳng hay tức giận, chẳng hay phỉ báng, chẳng hay rúng rẩy thì lúc ấy tất cả thế gian kẻ chưa tin sẽ phát lòng tin. Sau khi tin rồi lại thêm kính tin. Các Tỳ Kheo nên biết! Như thế có tên là một pháp trong đời. Khi sanh ra rồi cùng các chúng sanh vì nhiều lợi ích, vì nhiều an lạc, dẫn các thế gian, trời người, đại chúng làm lợi ích lớn, thọ quả an lạc. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Thế gian một pháp sanh
Hay sinh một lượng phước
Bởi vì Tăng hòa hợp
Kẻ trí huệ tùy hỷ
Hay hòa hợp Tăng vui
Hòa hợp mọi người vui
Ta chẳng phá hòa hợp
Nhiều kiếp sinh thêm vui.
Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Thế gian hữu tình, lúc kết lúc không, trừ sự kết chặt, tất cả đều dứt. Sao gọi là kết thành một? Đó là ngã mạn. Vì sao thế? Do các sự kết lại với những điều li chi, tất cả đều do ngã mạn làm gốc. Từ ngã mạn sanh ra, ngã mạn sẽ lớn dần. Cho nên khi ngã mạn kết lại hay lìa nhau, trừ tất cả kết, đều cũng đoạn theo. Dụ như thế gian khi đứng giữa quan sát giống như tòa nhà, chia ra chỗ nầy chỗ nọ. Nếu ở giữa thấp cùng lại mất theo. Ngã mạn như thế, nối kết vào nhau. Nếu đoạn ngã mạn chúng lại diệt theo. Nếu các Tỳ Kheo khi đoạn ngã mạn rồi, phải biết rằng cũng đã đoạn được sự kết nối. Nếu các Tỳ Kheo khi đoạn sự nối kết rồi phải biết rằng hết sự khổ sở, nên tu chánh trí, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát, không còn sau nữa. Lúc ấy Đức Phật sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Như ở giữa ngôi nhà
Tất cả chỗ nương tựa
Ở giữa nếu xuống sâu
Trừ phần không đọa lạc
Như vậy ngã mạn kết
Chúng kết và nương nhau
Khi ngã mạn đã dứt
Các kết cũng phải mất
Tỳ Kheo đoạn ngã mạn
Trừ kết phải tùy mất
Trừ kết và đoạn rồi
Tức chứng hết sự khổ
Liền được chỗ không khổ
Tên là tu chánh trí
Tâm huệ thiện giải thoát
Sau đó chẳng có gì.
Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trong đời có một pháp, nếu tu theo phép lành, tu nhiều việc lành, nhiếp trì 2 phần làm cho viên mãn, sẽ hiện lợi lạc làm cho viên mãn. Cho đến về sau cũng được lợi lạc viên mãn hay thành pháp chánh, lợi ích an lạc. Hay thành pháp sau, lợi ích an lạc, hay thành cho bây giờ và vị lai sự lợi ích an lạc. Thế nào là một pháp ? Nghĩa là tu theo các thiện pháp, tu chẳng buông lung, vì vậy cho nên, nếu có kẻ trong khi tu hành thiện pháp mà chẳng phóng dật, hay tu phép lành, tu tập phép lành, lại hay nhiếp trì hai loại lợi lạc làm cho đến được chỗ viên mãn. Nói rộng ra cho đến hay thành hiện tại vị lai sự lợi ích an lạc. Đó tên là một pháp. Nếu tu phép lành hay tu các pháp, nhiếp trì 2 việc. Nói rộng cho đến hay thành, hiện tại vị lai lợi ích an lạc. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Được nghe bởi nhiều người
Hay bỏ sự tham tiền
Khuyên tu chẳng buông lung
Chứng thường lạc Niết Bàn
Người trí chẳng phóng dật
Hay gìn giữ hai điều
Là pháp nay cùng sau
Bây giờ đến viên mãn
Các việc lành hay thành
Giờ và sau đều lợi
Trước sau thành hiền thánh
Tất cả xưng người trí.
Sâu vào kinh trước Uẩn Đà Nam đã viết :
Che đậy tâm nhiều kiếp
Nghiệp và ý đi trước
Phá Tăng và hòa Tăng
Lìa khinh chẳng phóng dật.
Ta từ Đức Thế Tôn nghe được như thế nầy. Này các Tỳ Kheo phải nên biết. Nếu các loài hữu tình đoạn lìa một pháp ta chứng cho kia được quả chẳng lui. Thế nào là một pháp ? Nghĩa là lìa tham, cho nên phải biết tất cả các loài hữu tình do tham nhiễm mà có, luôn luôn qua lại, đọa vào ác thú, thọ sanh khổ não. Nếu hay đoạn diệt như pháp thế nầy, ta chứng cho kia được quả bất thối cũng chẳng trở lại. Sanh vào thế gian nầy, ta nay lại nói: Nếu có loài hữu tình vĩnh viễn đoạn lìa một pháp, ta chứng cho kia được quả chẳng lùi. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu nhiếp nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem loài hữu tình
Do tham lam ô nhiễm
Qua lại nơi ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết chơn chánh
Xa rời tham lam nầy
Chứng được quả bất hoàn
Chẳng sanh lại đời nầy
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình, xa lìa một pháp, ta chứng cho kẻ kia được quả chẳng lui. Thế nào là một pháp ? Đó là sân hận. Do vậy phải biết tất cả các loài hữu tình, do tham nhiễm mà ra vậy. Luôn luôn tới lui, đọa vào các ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay xa lìa. Đó là một pháp. Ta chứng cho kẻ kia được quả bất hoàn, chẳng trở lại nữa sanh vào thế gian, cho nên ta nói nếu loài hữu tình xa lìa một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem loài hữu tình
Do sân mà ô nhiễm
Qua lại nơi ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay nghe biết rõ
Xa lìa khỏi sân nầy
Chắc được quả chẳng lùi
Chẳng sanh ra nơi nầy.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả chẳng lùi. Pháp ấy là gì ? Nghĩa là si vậy, mà các loài hữu tình do si nhiễm ô, luôn luôn bị lui tới đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay đoạn lìa, như một pháp nầy, ta chứng cho người đó được quả bất hoàn sanh vào thế gian. Cho nên ta nói: Nếu các hữu tình xa lìa một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem loài hữu tình
Do si mà ô nhiễm
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều nầy
Xa lìa ngu si vậy
Chứng được quả bất hoàn
Chẳng sanh vào thế gian
Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là sự chứa nhóm. Cho nên tất cả các loài hữu tình do chứa nhóm mà nhiễm ô, luôn luôn qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay xa lìa như vậy một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Chẳng trở lại nữa để sanh vào thế gian nầy. Do vậy ta nói, nếu các loài hữu tình, xa lìa một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem chúng hữu tình
Do chứa nhóm ô nhiễm
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều nầy
Kẻ xa lìa chứa nhóm
Chứng được quả bất hoàn
Chẳng sanh lại thế gian.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có các loài hữu tình xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Nghĩa là lo rầu. Cho nên tất cả các loài hữu tình, do lo rầu ô nhiễm nên luôn luôn phải qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay xa lìa như thế một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn chẳng trở lại nữa, sanh vào thế giới nầy. Cho nên ta nói: Các loài hữu tình, đoạn lìa một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các chúng sanh
Do phiền não nhiễm ô
Qua lại đọa đường ác
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều nầy
Xa lìa phiền não thảy
Chứng được quả bất hoàn
Chẳng sanh lại đời nầy.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có các loài hữu tình xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Nghĩa là giận hờn. Cho nên tất cả loài hữu tình do giận hờn bị nhiễm ô, luôn luôn qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay đoạn lìa, như vậy một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn, chẳng trở lại nữa sanh vào thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu loài hữu tình xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do giận hờn ô nhiễm
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều nầy
Vĩnh viễn xa giận hờn
Chứng được quả bất hoàn
Chẳng sanh lại thế gian
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Nấy các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là oán giận. Cho nên tất cả các loài hữu tình do oán giận nhiễm ô đời đời qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay xa lìa như vậy một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn, chẳng trở lại nữa sanh lại đời nầy. Cho nên ta nói nếu các hữu tình xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do oán giận nhiễm ô
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay rõ điều nầy
Vĩnh viễn xa oán giận
Chứng được quả bất hoàn
Chẳng sanh lại thế gian.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các hữu tình xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả bất thối. Thế nào là một pháp ? Đó là sự ghen ghét. Nghĩa là tất cả loài hữu tình do sự ghen ghét nhiễm ô nên luôn luôn phải qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ của sanh tử. Nếu hay đoạn trừ. Đó gọi là một pháp. Ta chứng cho họ được quả bất thối, chẳng hề trở lại ở thế gian nầy. Cho nên ta nói. Nếu các loài hữu tình đoạn trừ một pháp thì ta chứng cho họ được quả bất thối. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem loài hữu tình
Do ghen ghét nhiễm ô
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết chơn chánh
Đoạn lìa ghen ghét nầy
Nhất định được bất thối
Chẳng sanh ở thế gian
Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình đoạn trừ một pháp, ta chứng cho họ được quả bất thối. Những gì là một pháp ? Đó là sự keo kiệt. Cho nên tất cả loài hữu tình do sự keo kiệt làm nhiễm ô, luôn luôn phải lui tới đọa vào nơi ác thú thọ khổ sanh tử. Nếu hay xa lìa. Đó là một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn chẳng trở lại nữa trong sanh tử thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu có hữu tình, xa rời một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do keo kiệt nhiễm ô
Tới lui đọa đường ác
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều đó
Xa rời sự keo kiệt
Nhất định chẳng trở lại
Sanh vào thế gian nầy.
Ta từ Đức Thế Tôn đã nghe như thế nầy: Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình đoạn lìa một pháp ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là sự ham thích. Cho nên tất cả làm cho loài hữu tình do sự ham thích làm nhiễm ô mà luôn luôn quả lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay xa lìa. Đó là một pháp, ta chứng cho họ được qua bất hoàn sanh trong thế gian, cho nên ta nói: Nếu chúng hữu tình đoạn lìa một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Phật sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem loài hữu tình
Do ham thích nhiễm ô
Tới lui đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay rõ điều nầy
Đoạn lìa sự ham thích
Chứng được quả bất hoàn
Chẳng sanh thế gian nữa.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình đoạn lìa một pháp ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là sự khinh thường. Cho nên tất cả các loài hữu tình do bị nhiễm ô bởi sự khinh thường; nên luôn luôn phải qua lại đọa vào ác thú thọ khổ sanh tử. Nếu hay dứt trừ. Đó là một pháp. Ta chứng cho họ được quả bất hoàn, chẳng trở lại nữa sanh vào thế gian. Cho nên ta nói: Nếu loài hữu tình xa lìa một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:
Ta xem các hữu tình
Do khinh thường nhiễm ô
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều nầy
Xa lìa sự khinh thường
Nhất định không trở lại
Sanh ra ở thế gian
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình đoạn trừ được một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là sự di hại. Cho nên tất cả loài hữu tình do sự di hại nhiễm ô nên phải luôn luôn quả lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay xa lìa như vậy một pháp, ta chứng cho họ được qua bất hoàn, chẳng trở lại nữa trong thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu loài hữu tình xa lìa một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem loài hữu tình
Do di hại nhiễm ô
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều nầy
Xa rời sự di hại
Chứng được quả bất hoàn
Chẳng sanh thế gian nầy.
Sâu vào kinh trước Uẩn Đà Nam nói:
Tham dục cùng sân si
Chứa nhóm sầu não giận
Ghen ghét, keo kiệt, ưa
Khinh thường, mạn di hại.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có loài hữu tình hay nhớ đến một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là sự niệm Phật. Cho nên tất cả loài hữu tình do chẳng niệm Phật mà luôn luôn qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu thường hay niệm Phật, một pháp như thế, ta chứng cho họ được quả bất thối, chẳng sanh trở lại ở thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu các hữu tình hay niệm một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Bởi do chẳng niệm Phật
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết như thế
Kẻ thường hay niệm Phật
Nhất định chẳng trở lui
Chẳng sanh thế giới nầy.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có loài hữu tình hằng nhớ một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là sự nhớ nghĩ đến Pháp. Cho nên tất cả loài hữu tình do chẳng niệm Pháp nên phải luôn luôn qua lại, đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay thường niệm như thế một pháp, ta chứng cho họ chẳng trở lại sanh tử trong thế gian nầy nữa. Cho nên ta nói: Nếu các hữu tình hay niệm một pháp, ta chứng cho họ được quả bất thối. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do chẳng hay niệm Pháp
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết việc nầy
Thường siêng năng niệm Pháp
Sẽ được quả bất hoàn
Chẳng sanh thế gian nầy.
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có loài hữu tình thường hay niệm một Pháp, ta sẽ chứng cho họ được quả chẳng thối lui. Thế nào là một pháp ? Đó là sự nhớ nghĩ về Thánh chúng. Cho nên tất cả các loài hữu tình do chẳng nhớ nghĩ đến Thánh chúng; nên phải luôn luôn qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu thường hay niệm, đó là một pháp. Ta chứng cho họ được quả bất hoàn, chẳng sanh trở lại ở thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu có hữu tình hay niệm một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do chẳng niệm Thánh chúng
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết đầy đủ
Thường niệm đến Thánh chúng
Sẽ được quả bất hoàn
Chẳng sanh thế gian nầy
Ta từ Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có loài hữu tình thường niệm một pháp, ta chứng cho họ được quả bất thối. Thế nào là một pháp ? Đó là sự nhớ nghĩ đến giới. Cho nên tất cả loài hữu tình do chẳng niệm giới luôn luôn qua lại, đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay thường niệm như thế một pháp, ta chứng cho họ được quả bất thối, chẳng trở lại sanh tử trong cõi nhân gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu có loài hữu tình hay niệm một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do chẳng niệm đến giới
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết rõ ràng
Thường hay niệm đến giới
Chắc được quả bất hoàn
Chẳng sanh lại thế giới
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết. Nếu có loài hữu tình hay nhớ đến một pháp, ta chứng cho kẻ kia sẽ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Nghĩa là nhớ nghĩ đến sự bố thí. Cho nên tất cả các loài hữu tình do chẳng nhớ nghĩ đến sự bố thí nên phải luôn luôn qua lại, đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay thường nhớ nghĩ về một pháp, ta chứng cho họ được quả bất thối; chẳng trở lại nữa trong cảnh của thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu các loài hữu tình hay niệm một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do chẳng nghĩ đến thí
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều nầy
Thường nghĩ đến bố thí
Chứng được quả bất thối
Chẳng trở lại thế gian
Ta nghe từ Đức Thế Tôn nói lời như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình thường niệm đến một pháp, ta chứng cho kẻ kia được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là nhớ nghĩ đến chư Thiên. Cho nên tất cả các loài hữu tình do chẳng niệm đến chư Thiên, luôn luôn qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay thường niệm một pháp như thế, ta chứng cho họ được quả bất hoàn, chẳng tới lui nữa để sanh vào thế giới nầy. Do vậy ta nói: Nếu có chúng hữu tình thường hay niệm đến một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem loài hữu tình
Do chẳng niệm chư Thiên
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết rõ ràng
Thường niệm đến chư Thiên
Sẽ chứng quả bất thối
Chẳng sanh lại thế gian
Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu chúng hữu tình thường nhớ đến một pháp, ta chứng cho họ quả bất thối. Thế nào là một pháp ? Đó là nhớ đến sự nghỉ ngơi. Cho nên tất cả loài hữu tình do chẳng nhớ nghĩ đến sự nghỉ ngơi, luôn luôn qua lại, đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay thường niệm đến một pháp như thế, ta chứng cho họ được quả bất hoàn, chẳng trở lại nữa để sanh vào thế gian nầy. Do vậy ta nói: Nếu các loài hữu tình thường niệm một pháp, ta chứng cho họ được quả bất thối. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do chẳng niệm nghỉ ngơi
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết rõ ràng
Thường nhớ đến nghỉ ngơi
Chứng được quả bất thối
Chẳng sanh thế gian nầy
Ta nghe từ Thế Tôn nói như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có các hữu tình hay nhớ đến một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Thế nào là một pháp ? Đó là nhớ nghĩ đến sự an lạc. Cho nên tất cả các loài hữu tình do chẳng nhớ nghĩ đến sự an lạc; nên phải luôn luôn qua lại đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu thường hay nhớ nghĩ đến một pháp, ta chứng cho họ được qua chẳng trở lại, chẳng sanh vào thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu các loài hữu tình thường hay nhớ đến một pháp, ta chứng cho người đó được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do chẳng nhớ an lạc
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết điều nầy
Thường niệm đến an lạc
Quyết định chẳng trở lại
Sanh vào thế gian nầy.
Ta từ Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các hữu tình hay nhớ đến một pháp, ta chứng cho họ được quả chẳng lùi. Thế nào là một pháp ? Đó là sự nhớ nghĩ về thân thể. Cho nên tất cả chúng hữu tình do chẳng nhớ nghĩ đến thân nên phải luôn luôn qua lại, đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay thường nhớ nghĩ đến một pháp như thế, ta chứng cho họ được quả chẳng lùi, chẳng phải sanh lại trong thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu các hữu tình hay nhớ đến một pháp, ta chứng cho họ được quả bất thối. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
Ta xem các hữu tình
Do chẳng nghĩ đến thân
Qua lại đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết như thế
Hay nghĩ đến thân thể
Chắc được quả chẳng lùi
Chẳng sanh thế gian nầy
Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu các loài hữu tình hay nhớ đến một pháp, ta chứng cho họ được quả chẳng trở lại. Như thế nào là một pháp ? Đó là nhớ nghĩ đến sự chết. Cho nên tất cả các loài hữu tình do chẳng nhớ nghĩ đến sự chết nên phải luôn luôn trở lại, đọa vào ác thú, thọ khổ sanh tử. Nếu hay thường nhớ nghĩ đến một pháp như thế, ta chứng cho họ được quả chẳng lùi, chẳng phải sanh lại ở thế gian nầy. Cho nên ta nói: Nếu các hữu tình hay nhớ một pháp, ta chứng cho họ được quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa trên mà nói kệ rằng :
Ta thấy các hữu tình
Do chẳng nghĩ đến chết
Lui tới đọa ác thú
Thọ sanh tử luân hồi
Nếu hay biết như thế
Luôn nhớ đến sanh tử
Chắc được quả chẳng lùi
Lại chẳng sanh thế gian.
Kinh Bổn Sự - Quyển thứ nhất .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.( MHDT ).30/4/2012.

Đại Bi Kinh

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển thứ 12, từ trang 945 đến trang 973 phần trên.
Đời Cao Tề Thiên Trúc Ngài tam tạng Na Liên Đề Na Xá dịch từ Phạn văn ra Hán văn.
Thích Như Điển dịch từ Hán văn ra Việt văn.
Khởi dịch ngày 14 tháng 10 năm Canh Thìn, nhằm ngày 9 tháng 11 năm 2000.
Đại Bi Kinh Quyển thứ nhất
- Phẩm Phạm Thiên thứ nhất :
Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Đức Phật ở tại thành Câu Thi Na, ở giữa nơi hai cây Sa La song thọ. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sắp nhập Niết Bàn. Liền dạy cho Ngài A-Nan rằng :
- Hãy lấy đồ bày ra giữa hai cây Sa La song thọ.
Sau đó Đức Phật nằm xuống xoay đầu về bên mặt như dáng Sư Tử nằm và nói : Ta sẽ nhập Niết Bàn vào đêm nay. Nầy A-Nan, khi ta vào Niết Bàn sẽ đoạn trừ tất cả những lời nói. Ta đã làm những việc mà chư Phật đã làm. Nói pháp cam lồ làm lợi lạc quần sanh. Tịch diệt, vắng lặng, sâu xa vi diệu, khó thấy khó biết, khó có thể đo lường.
Người trí có thể hiểu được pháp của Thánh Hiền. Ta đã 3 lần chuyển pháp luân vô thượng. Nếu có Sa Môn Bà La Môn; nếu có Trời, Ma hoặc Phạm Vương hoặc loài người. Và đời cùng với người không thể chuyển pháp, ta đã giảng trống pháp, thời pháp loa, dựng pháp tràng, làm thuyền pháp, tạo cầu pháp, mưa pháp vũ. Ta đã chiếu sáng cho 3 ngàn đại thiên thế giới, diệt trừ chỗ tối tăm. Mở bày cho chúng sanh giải thoát, làm cho trời người được sung mãn chánh tín. Người nào có thể độ, đều đã được độ xong. Ta đã hàng phục tất cả ngoại đạo và các luận sự khác. Nơi Động Ma cung điện tuy có thế lực của ma; nhưng tiếng sư tử gầm đã làm các Phật sự. Làm cái việc của bậc trượng phu đã xong lời nguyện. Giúp đỡ giáo pháp Thanh Văn và thọ ký cho Bồ Tát. Chỉ vì tương lai giáo pháp của Phật không mất vậy. Nầy A-Nan ! Ta nay đến sau không làm gì nữa, chỉ vào Đại Bát Niết Bàn".
Lúc bấy giờ Ngài A-Nan nghe lời ấy rồi, liền buồn khổ vô cùng, khóc lóc sướt mướt mà bạch Phật rằng :
- Kính bạch Ngài ! Bà Già Bà ! Niết Bàn quá nhanh. Tu Già Bà ! Niết Bàn quá nhanh. Mắt thế gian không còn nữa, thế gian cô độc. Thế gian không cứu được, không có người dẫn đường.
Lúc bấy giờ Đức Phật bảo Ngài Huệ Mệnh A-Nan rằng :
- Đừng có lo buồn ! Pháp có sanh tất có diệt, phải có hoại. Nếu không mất thì không đúng vậy. Ta nói thêm rằng : Tất cả những ái nhiễm, đều khó xa lìa. Vậy A-Nan ! Ta chỉ vì lòng từ không hai. Cả tâm và thân không có ác. Ngươi đã hiếu dưỡng tùy thuận làm thị giả giúp đỡ ta vô hạn. Nầy A-Nam ! Nếu có Trời, Người, A-Tu-La v.v... cho việc cúng dường Thanh Văn Duyên Giác, nếu giảm một kiếp hoặc mãn một kiếp, lại cùng với việc phụng dưỡng Như Lai, đối với việc ấy phước lại nhiều hơn. Cho đến cúng dường các vị Phật có thần thông lớn và lúc vào Niết Bàn, thì được công đức rất lớn. Ví như Cam Lồ trong các Cam Lồ. Cuối cùng của Cam Lồ là Niết Bàn vậy. Như vầy đó A-Nam, hãy đừng buồn khổ.
Khi Ngài A-Nam lo buồn khóc than như thế thì Đức Như Lai đã ở giữa 2 cây Sa La song thọ. Giống như Sư Tử nằm xoay về hướng bên mặt trên chỗ nằm. Tức thời 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới, cho đến cây cối hoa cỏ trong vườn rừng, đều hướng về nơi Đức Phật Nhập Niết Bàn. Có kẻ muốn đến, muốn gần gũi, muốn đến chỗ Phật, cho đến cả 3 ngàn thế giới lớn nhỏ, cả những sông lớn sông nhỏ, ao hồ v.v... vì thần lực của Phật mà ngưng chảy. Trong 3 ngàn thế giới lớn nhỏ có các muông thú, vì thần lực của Phật mà mặc nhiên đứng yên không hót không ăn. Trong 3 ngàn thế giới lớn nhỏ mặt trời mặt trăng không di động. Các lửa dữ và lửa đang thiêu đốt vì thần lực của Phật mà không hiện hữu. Không có ánh sáng nào có thể chiếu nóng. Trong 3 ngàn thế giới nếu có lửa mạnh, nhờ vào thần lực của Phật mà tiêu diệt đi. Không thể tự đốt cháy được. Trong 3 ngàn thế giới nếu có lửa cháy trong địa ngục, nhờ thần lực của Phật mà tất cả trở nên mát mẻ. Tại các địa ngục nầy các chúng sanh trong khoảng sát na, nhờ thần lực của Phật mà được an lạc. Trong 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới có súc sanh, tất cả đều khởi tâm từ và tâm bi mẫn. Không có tướng si não làm hại tánh mạng. Tất cả ngạ quỷ không bị đói khát. Tất cả chúng sanh đều nhờ vào thần lực của Phật vậy. Thân tâm nhẹ nhàng lìa khổ được vui. Đầy đủ ý nghĩa đệ nhất an lạc. Lúc ấy Đức Phật đang nằm day về phía mặt; trong 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới có vua núi Tu Di, núi Thiết Vi và núi Đại Thiết Vi, núi Mục Chân Lân Đà, Hương Sơn Tuyết Sơn và Hắc Sơn, đất lớn biển lớn tất cả đều bị chấn động bởi sáu loại. Cho nên nhảy múa, khởi lên chấn động. Ba ngàn Đại Thiên Thế Giới tất cả phong luân đều không xuy động. Tất cả chúng sanh trong khoảng sát na, bỏ tất cả nghiệp được ở trong niềm vui, lìa sự ngủ nghỉ, tâm không tán loạn. Muốn làm việc gì đều mặc nhiên không có tiếng. Ba ngàn Đại Thiên Thế Giới có Thiên Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A-Tu-La, Ca Lầu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Phạm Thiên, Thích Thiên, Hộ Thế Thiên v.v...
Nhờ thần lực của Phật mà thấy được các cung điện, chỗ ngồi và vườn rừng. Các bóng tối đều không có cơ hội trở lại, không sanh ái lạc. Quyến thuộc của họ ưu não chẳng vui. Một ngàn thế giới chủ Phạm Thiên Vương, ba ngàn Đại Thiên Thế Giới chủ Đại Phạm Thiên Vương. Cao tâm tự thị làm như vậy và nhớ như vậy để làm. Nhớ nghĩ thế giới nầy và các chúng sanh, đều do ta làm và do ta hóa thành. Ba ngàn Đại Thiên Thế Giới chủ Đại Phạm Thiên kia, nhờ thần lực của Phật mà thấy được cung điện của họ và chỗ ngồi v.v... Chỗ ám muội không có, không sanh ái lạc, Trời Ma Ê Thủ La ở cõi Tịnh Cư v.v... cũng đều như vậy. Lúc bây giờ Đức Chủ Phạm Thiên Vương của 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới nhớ nghĩ thế nầy. Lực nầy do ai mà sinh tướng nầy ? Làm cho ta không vui, cung điện chỗ ở, tức thời Đức Đại Phạm Thiên Vương biến vào trong 3 ngàn thế giới hóa thành một vị Đại Tự Tại giàu có, biết rằng Đức Như Lai ứng cúng chánh biến tri, đêm nay sẽ vào Niết Bàn. Cho nên mới hiện nên những thần lực biến hóa không thể nghĩ bàn, việc nầy chưa từng có. Với thần lực nầy đúng là tướng của Như Lai sắp vào Niết Bàn. Lúc ấy Đức Đại Phạm Vương liền nghĩ rằng : Ưu sầu không vui, lo lắng có việc và các phạm chúng cùng đến nơi Phật. Cùng với 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới với các Phạm Thiên đều cùng tín thọ thánh pháp và an trụ nơi thánh pháp ấy.
Lúc bấy giờ Chủ Đại Phạm Thiên Vương của 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới đến trước Phật rồi dập đầu đảnh lễ, đoạn bạch Phật rằng : Kính mong Đức Thế Tôn, Ngài dạy cho con, phải sống và tu hành như thế nào ? Nói lời ấy rồi, Như Lai tức thời hỏi vị Đại Phạm Vương rằng : Nầy Phạm Vương ! Nay hãy làm và nghĩ như vầy Ta là Đại Phạm Thiên, ta hay thắng người, người không như ta, ta là người trí. Ta là đấng Đại Tự Tại trong 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới, ta đã tạo tác chúng sanh và hóa tác chúng sanh. Ta có thể tạo ra thế giới và biến đổi thế giới chăng ?
Đại Phạm Thiên trả lời rằng : Như vầy Đức Bạt Già Phạm, như vầy Ngài Tu Già Đà.
Phật bảo: Này Phạm Thiên ! Nên biết ai làm và ai biến hóa ra. Lúc ấy Phạm Thiên mặc nhiên đứng lặng. Phật thấy Phạm Thiên mặc nhiên đứng như thế, lại tiếp hỏi rằng :
Phạm Thiên có lúc 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới, làm kiếp lửa thiêu đốt hết trọi là ý thế nào ? Đây có phải là việc làm, là việc hóa hiện chăng ?
Lúc ấy Ngài Đại Phạm Thiên bạch Phật rằng: Không phải vậy, Thế Tôn.
Phật tiếp : Này Phạm Thiên ! Như đại địa nương vào nước để tồn tại; nước nương vào gió; gió nương vào hư không; như vậy đại địa dày 6.800.000 do tuần không rời ra, không tan biến. Nầy Phạm Thiên ! Ý đó ra sao ? đây có phải là việc làm, việc hóa hiện chăng ?
Phạm Vương trả lời rằng : Không phải vậy thưa Thế Tôn.
Phật tiếp : Nầy Phạm Thiên, trong 3 ngàn thế giới lớn nhỏ nầy trong khi có trăm ngàn ức mặt trời mặt trăng lưu chuyển thì Phạm Thiên thế nào ? có phải hóa hiện ra chăng ?
Phạm Thiên thưa rằng : Không phải thế! Bạch Đức Thế Tôn.
Phật dạy : Nầy Phạm Thiên ! Có lúc Nhựt Nguyệt thiên tử không ở tại cung điện, cung điện không hư. Phạm Thiên! Điều ấy nghĩa gì ? có phải do làm, có phải do hóa ra hay do thêm không ?
Phạm Thiên bạch Phật : Không không như thế, bạch Đức Thế Tôn.
Đức Phật bảo : Nầy Phạm Thiên! Cũng giống như thời tiết Xuân Hạ Thu Đông. Vì sao vậy ? Những điều nầy tự nhiên làm, tự nhiên hóa và tự nhiên thành tựu.
Phạm Thiên thưa rằng : Không phải thế, Thế Tôn.
Phật dạy : Nầy Phạm Thiên! Cũng giống như tấm kiếng của đèn dầu Ma Ni. Ngoài ánh sáng lên sắc vì kiếng trong sáng vậy. Cho nên đại địa, sơn hà, cây rừng, vườn nhà, cung điện, nhà cửa, tụ lạc, thành ấp, voi ngựa, nai hươu, chim muông, mặt trời mặt trăng, vì sao, Thanh Văn Duyên Giác, Bồ Tát, Như Lai, Thích Phạm, hộ thế, người và không phải người v.v... mỗi loại đều hiện lên sắc tướng. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Tự nó hay làm, hay biến hóa, hay thành tựu.
Phạm Thiên thưa rằng : Không phải vậy, kính bạch Đức Thế Tôn.
Phật bảo : Nầy Phạm Thiên! Giống như núi cao, hố sâu, các đồ dụng cụ ca múa lớn nhỏ, nai hươu, chim thú, người và chẳng phải người v.v... đều tạo nên âm thanh. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? tự nó tạo nên, tự nó biến hóa, tự nó thành tựu ?
Phạm Thiên thưa : Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Phật bảo: Nầy Phạm Thiên! Như chúng sanh đang ở trong mộng thấy nhiều loài hình sắc khác nhau, nghe nhiều âm thanh như vậy, ngửi nhiều loại mùi hương, nếu nhiều vị khác nhau, hiểu nhiều loại cảm xúc, biết nhiều pháp, làm nên nhiều loại vui, nhiều loại tiếng khóc than, thọ những vui buồn lo sợ. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Vì chúng tự làm, tự biến hóa, tự thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Phật bảo : Nầy Phạm Thiên! Như 4 loại người đoan chánh, xấu xa, bần cùng, giàu có phước đức nhiều ít. Giới lành, giới dữ, huệ lành, huệ dữ. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Có phải tự làm, tự biến hóa, tự thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Không phải vậy ? Bạch Đức Thế Tôn !
Phật dạy : Nầy Phạm Thiên! Tất cả chúng sanh có sự lo lắng, khổ sở, não hại là vì nước, lửa, dao, gió lớn, độc dược, ác thú làm cho người cũng như không phải người sợ hãi cùng với nhiều loại nguy hại khác nhau. Hay gây nên nhiều sự sợ hãi. Nầy Phạm Vương! Vì sao vậy ? Có phải tự làm, tự biến hóa và tự thành tựu chăng ?
Phạm Vương thưa : Không phải như thế, Thế Tôn.
Phật dạy rằng : Nầy Phạm Thiên! Chúng sanh tự có nhiều loại tật bịnh khác nhau. Ví như bịnh phong, lạnh, nóng và có nhiều bịnh khác. Do thời tiết thay đổi mà tứ đại không hòa. Nếu do tự làm hoặc do nghiệp báo từ trước, làm cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân bịnh. Lại cũng có chúng sanh bị khổ não bởi tâm ý khác nhau. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Có phải tự làm, tự biến hóa và tự thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Phật bảo : Nầy Phạm Thiên! Chúng sanh gặp những sự nguy hiểm như nước, lửa, nạn khổ v.v... Hoặc trong kiếp đao binh bị tật bịnh lại sinh đói rét. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Có phải tự làm, tự sanh và tự thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Không phải vậy, bạch Đức Thế tôn.
Đức Phật dạy : Nầy Phạm Thiên! Chúng sanh do sự khổ của tình thương yêu bị chia lìa. Do sự chia lìa với cha mẹ, huynh đệ, chị em, quyến thuộc, bạn hữu nên mới khổ. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Có phải tự làm, có phải tự hóa hiện và tự thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Phật dạy : Nầy Phạm Thiên! Chúng sanh do tạo nhiều loại nghiệp ác khác nhau như mua rẻ, uống rượu, ngâm thuốc vào đồ ăn v.v... hoặc đi vào trong biển lớn gặp nơi nguy hiểm, đã dùng các phương thuật của tiên hoặc làm các phép diệt trừ. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Có phải do tự làm, tự biến hóa, tự thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Phật dạy : Nầy Phạm Thiên! Do chúng sanh tạo tác nhiều đường dữ khác nhau. Đây là nguyên nhân vậy. Nên phải đầu thai vào các chốn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hoặc làm trời người. Do chúng sanh từ thân, miệng, ý mà sinh ra việc lành việc dữ. Lại nữa thế gian cũng có 10 nghiệp ác. Đa phần chúng sanh không có tâm từ bi, làm các việc khổ não, không lợi ích cho nên là nhân duyên đọa vào đường ác. Do vì sát sanh, trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham si, tà kiến. Nầy Phạm Vương! Vì sao vậy ? Có phải do tự làm, tự biến hóa, tự thành tựu chăng ?
Phạm Vương thưa : Bạch Thế Tôn, không phải thế.
Phật bảo Phạm Vương rằng : Chúng sanh nguyên là có nhiều sự khổ khác nhau. Ví dụ như về đầu, tay, chân, mũi, tai v.v... nơi đây luôn bài tiết ra. Nóng bức khó chịu, như trong lửa, nóng nực. Bị đao kiếm cắt xéo v.v... Bị giam vào ngục tối luôn luôn tranh tụng. Nầy Phạm Vương! Vì sao vậy ? Có phải việc nầy tự làm, tự biến hóa và tự thành tựu chăng ?
Phạm Vương thưa : Kính bạch Đức Thế Tôn! Không phải vậy.
Đức Phật dạy rằng : Nầy Phạm Vương! Chúng sanh hay làm việc dâm dục tà hạnh. Hoại dâm với mẹ, chị em hoặc người giữ giới thanh tịnh và các nghiệp ác. Nầy Phạm Vương! Vì sao vậy ? Có phải việc nầy tự làm, tự biến hóa và tự thành tựu chăng ?
Phạm Vương thưa : Kính bạch Đức Thế Tôn, không phải vậy.
Phật dạy : Nầy Phạm Vương! Chúng sanh lại có nhiều việc giết hại khác nhau. Ví như làm các thuốc độc để giết hoặc trù yếm bằng chú thuật các côn trùng. Cùng với nhiều loại ác nghiệp làm phương tiện và nhân duyên giết hại sinh mạng. Nầy Phạm Vương! Vì sao vậy ? Điều ấy có phải do làm, do hóa hiện mà thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Kính bạch Thế Tôn, không phải vậy.
Phật bảo : Nầy Phạm Vương! Vì thế gian có sanh, già, bệnh, chết, ưu sầu, khổ não. Pháp vô thường, tận diệt và dễ biến đổi cùng với 4 tánh mà con người khó có thể quên được. Hay làm cho tất cả thương yêu, không yểm hoại. Nhiều vật bị bại hoại, ly tán. Nầy Phạm Vương! Vì sao vậy ? Có phải do làm, do biến hóa mà thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Không phải thế, bạch Thế Tôn.
Phật bảo : Này Phạm Vương! Chúng sanh vì nghiệp chướng tham, sân, si mà nối kết cũng như liên hệ những loại phiền não khác nhau lại. Đây là nhân duyên để cho chúng sanh làm việc giận hờn và làm cho tâm bị mê hoặc vậy. Tạo tác rất nhiều các loại nghiệp khác nhau. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Có phải đây là việc tự làm, tự biến hóa và tự thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Kính bạch Đức Thế Tôn, không phải vậy.
Phật dạy : Nầy Phạm Thiên! Phải vào 3 ác thú như Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh. Nơi nầy các chúng sanh vì những việc đã làm mà thọ những khổ não. Nầy Phạm Vương! Vì sao vậy ? Có phải do làm, do biến hóa mà thành tựu chăng ?
Phạm Vương thưa : Không phải thế, bạch Đức Thế Tôn.
Phật dạy : Nầy Phạm Vương! Tất cả các mầm mống nếu không có thì không sanh. Ví như cây thì sanh giống thuốc, lúc có nước thì sanh ra hoa quả, hương thơm. Tất cả các vị ngọt đắng, chua, cay đều có. Tùy theo chúng sanh có ý hay không có ý mà tác hại như vậy. Nầy Phạm Vương! Vì sao vậy ? Có phải do làm, do biến hóa mà thành tựu chăng ?
Phạm Vương thưa : Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.
Phật dạy : Nầy Phạm Vương! Năm đường lưu chuyển chết sống thành tựu và hoại diệt. Sở dĩ như vậy vì chúng sanh bị vô minh che đậy và tương ứng với ái dục mà có. Đọa lạc lưu chuyển trước sau khó biết. Cùng với đời sau sống chết cũng không rời khỏi chốn nầy. Có thể làm người, trời, hoặc ma, hoặc phản Sa Môn Bà La Môn. Điều nầy thế gian như đống chỉ rối. Thường hay lưu chuyển sanh chỗ nầy và qua chỗ kia. Khi các chúng sanh nầy lưu chuyển như thế không biết không ra khỏi. Nầy Phạm Thiên! Vì sao vậy ? Có phải do làm, do biến hóa mà thành tựu chăng ?
Phạm Thiên thưa : Không phải thế! Đức Bà Già Bà.
Đức Phật dạy : Nầy Phạm Thiên! Từ nhơn duyên gì mà làm việc nhớ nghĩ nầy ? Phải biết các chúng sanh nầy do mình tạo ra, do mình biến hóa, do mình thành tựu; nên mới có thế giới nầy. Do ta tạo nên, do ta biến hóa và do ta thành tựu ?
Phạm Thiên thưa : Bạch Thế Tôn! Vì con không có trí, tà kiến, có tâm chưa đoạn điên đảo. Cùng vì không hay nghe Như Lai nói chánh pháp vậy. Con đã từ lâu làm việc ác kiến và nói những việc ác. Các chúng sanh nầy như con, tự mình làm và tự mình biến hóa, cho nên mới có thế giới nầy. Chính con tự làm, chính con tự biến hóa vậy.
Bạch Đức Thế Tôn, con nay lại xin hỏi Phật nghĩa nầy. Như vậy với thế giới nầy, ai người làm ra, ai hóa hiện và tất cả chúng sanh do ai làm ra, do ai hóa hiện và do ai thành tựu ? Do ai sanh ra ?
Phật bảo : Phạm Thiên! Thế giới nầy do nghiệp tạo tác mà thành, do nghiệp biến hóa. Tất cả chúng sanh đều do nghiệp tạo tác và do nghiệp biến hóa và do nghiệp lực mà sanh ra. Vì sao vậy ? Nầy Phạm Vương! Do vô minh nương vào hành, hành nương vào thức, thức nương vào danh sắc, danh sắc nương vào lục nhập, lục nhập nương vào xúc, xúc nương vào thọ, thọ nương vào ái, ái nương thủ, thủ nương hữu, hữu nương sanh, sanh nương vào lão tử, ưu lo khổ não. Do đây mà tập hợp lại các khổ. Nầy Phạm Thiên! Nếu vô minh mất cho đến ưu bi khổ não hết thì không có kẻ làm, cũng không có người làm và người bị làm. Chỉ có nghiệp chịu trách nhiệm về việc nầy. Do sự hòa hợp nhân duyên mà có chúng sanh. Nếu lìa nghiệp nầy thì pháp sẽ hòa hợp. Phải biết rằng người nầy có thể xa rời sanh tử mà lưu chuyển đi cõi khác. Nầy Phạm Vương! Như thế, nếu thế gian nghiệp hết, phiền não hết, sự khổ hết nghĩa là xuất ly sự khổ. Điều ấy có tên là tịch định Niết Bàn. Nầy Phạm Vương! Ai là người được Niết Bàn ? Đó là người nghiệp đã dứt, phiền não đã lìa và xa rời các khổ. Như vậy gọi là pháp. Do thần lực của chư Phật vậy, chư Phật gia hộ vậy. Vì sao thế ? Nầy Phạm Vương! Nếu không có chư Phật ra đời để nói pháp, tức không thể nghe được pháp như thế nầy. Nầy Phạm Thiên! Nếu khi chư Phật xuất hiện ở thế gian để nói pháp tịch định khó hiểu soi sáng pháp môn, nếu có chúng sanh nào khi nghe mà sanh pháp thì từ khi sanh đã được giải thoát. Được nghe các pháp về sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não. Chính từ các pháp lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não nầy mà được giải thoát. Nầy Phạm Thiên! Đây là việc mà chư Phật hiện làm và hiện thành tựu. Nầy Phạm Thiên! Chư Phật làm điều nầy để chỉ dạy. Cho nên các việc làm ví như ánh sáng, hay thay đổi không thường, không nhất định và chẳng cứu cánh. Cuối pháp sẽ sinh pháp. Ví như sau khi chư Phật diệt độ thì chánh pháp chìm xuống. Lại cũng như thế. Việc thị hiện cũng như vậy. Cho nên gọi chư hành giống như ánh sáng là vậy. Nếu Phật không ở đời, tất cả các hành đều cùng trong sát na giống như ánh sáng vậy. Tức không thể nói tất cả các hành giống như ánh sáng, như mộng, như tiếng vang. Nầy Phạm Thiên! Tất cả chư Phật đều biết tất cả các hành nầy; nên mới nói chư hành giống như ánh sáng, như mộng, như tiếng vang. Người trí hay biết tướng nầy vậy. Các tướng nầy đều do cái nghĩa từ nhân duyên vậy. Nên biết các hành vô thường chuyển động, đến pháp cuối thì thay đổi. Làm cho phân tán thời tiết bị hư hoại, trung từng sát na và cho đến ngày đêm nửa tháng cho đến một tháng, một năm hoặc trăm năm. Một kiếp cho đến một trăm kiếp, tất cả cuối cùng đều thay đổi. Có các loại lửa bị bị đổi thay. Nước đông lại. Gió lớn thổi lên, thế giới đất đai lại trở về không. Trong đó có núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, Tu Di Sơn và các Hắc Sơn v.v... đều trở thành không. Mặt trời, mặt trăng, sao mai và những quyến thuộc cũng trở về không. Không sáng, không chiếu trở lại đọa lạc. Cung điện của chư Thiên cũng bị tiêu mất, cùng các cung điện, thủ đô, thành ấp, cây cối, rừng rậm, ao hồ và các việc vui cũng đều bị hoại diệt. Chư Thiên sanh rồi lại mất, mất rồi lại sanh. Các bậc trí giả khi thấy việc nầy thường sanh tâm nhàm chán xa lìa. Vì đây do các hành không thường hay hư hoại biến đổi như vậy. Vì tâm bình đẳng và phát tâm bỏ nhà đi xuất gia. Chứng được các hành như là ánh sáng, như là mộng huyễn và tiếng vang. Cũng giống như xem trong nước thấy mặt trời, mặt trăng và ánh sao vậy. Tất cả đều bị tướng và bị các nhơn duyên mà đến được bồ đề vậy. Các bậc đại trí mong Phật chỉ giáo và mong đón nhận. Hoặc tự tư duy được hiểu biết các hành như ánh sáng, như mộng, như tiếng vang, sanh ra tín tâm, lìa nhà xuất gia. Hoặc có người chứng được Tu Đà Hoàn quả, Tư Đà Hàm quả, A Na Hàm quả và A La Hán quả. Nếu có người Đại Thừa, hoặc chứng Sơ Nhẫn hoặc chứng đệ nhị đệ tam nhẫn. Tất cả đều hay chứng đến Vô Thượng Bồ Đề. Giả sử sau khi Đức Phật diệt độ. Ở trong thế gian nầy mà lại thuyết pháp lưu hành như vầy. Nếu có chúng sannh nào nghe được pháp nầy, sẽ chứng được Tam Thừa. Cũng có thể chứng Thanh Văn, Bích Chi Phật Thừa cũng như tất cả chủng trí, Vô Thượng Đại Thừa. Nầy Phạm Vương! Hãy nên biết rằng các pháp thứ lớp như thế. Lại cũng do chư Phật mà thành tựu vậy. Lại có những người thấy những việc nầy liền sanh tâm xa rời hay biết rằng các hành đều vô thường, sự khổ luôn thay đổi, không có cái cuối cùng và pháp sẽ sinh ra. Tất cả như ánh sáng, như mộng, như tiếng vang. Nầy Phạm Thiên! Những điều nầy đều do chư Phật tạo thành cảnh giới nầy. Có các chúng sanh do tu hành mà thành tựu vậy, được nghe tiếng nói của chánh pháp. Nương nơi Như Lai mà suy nghĩ kính tin. Tất cả các hành vô thường và hoại diệt, giống như ánh sáng, như mộng, như tiếng vang. Cũng có chúng sanh từ đây nương vào chư Phật mà thành kẻ phạm hạnh. Hoặc có người tại gia thọ trì giới cấm và từ nhân duyên đó giải thích rằng tất cả các hành đều vô thường hoại diệt. Giống như ánh sáng, như mộng, như tiếng vang. Biết vậy sanh tín tâm, bỏ tục xuất gia. Các Đức Phật tuy chưa ra đời; nhưng đã được chư Phật thành tựu như vậy. Vì lẽ chư Phật đều có các căn lành, đến được Bồ Đề. Nầy Phạm Thiên! Hãy biết như vậy. Tất cả đều là cảnh giới của chư Phật và sự thành tựu của chư Phật. Nầy Phạm Thiên! Trong 3 ngàn Đại Thiên Thế Giới nầy không có Phạm Vương cũng không có ngoại đạo lục sư, duy chỉ có chư Phật. Nầy Phạm Thiên! Ta từ xưa cho đến nay trong vô lượng trăm ngàn ức Na Do Tha, A Tăng kỳ kiếp đã tu Bồ Tát hạnh, Vô lượng A Tăng kỳ kiếp Như Lai đã trồng nhiều loại căn lành và trì cấm giới, khổ tu phạm hạnh và đã tu vô lượng trăm nghìn ức Na Do Tha khó làm những việc khổ hạnh như thế. Giữ đất Phật nầy làm cho thanh tịnh. Nếu các chúng sanh tu các căn lành thì tùy theo chỗ mà được thanh tịnh và tùy theo thời mà được độ vậy. Ta suốt canh thâu dùng tứ nhiếp để nhiếp hóa chúng sanh. Đó là Bố Thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Họ vì ta mà thệ nguyện vậy. Sanh vào đất Phật, nghe ta thuyết pháp mà hay tín giải, không nương về với Phạm Thích Hộ Thế các Thiên Vương vậy. Nầy Phạm Thiên! Hãy biết như thế. Đây là đất Phật. Nơi đó không có Phạm Thích Hộ Thế, lại cũng chả có lục sư ngoại đạo vậy.
Lúc bấy giờ, chủ cõi Thế giới Ta Bà là Đại Phạm Thiên Vương cùng với trăm ngàn phạm chúng luận tướng sầu bi nói lời như vầy. Chư Phật Thế Tôn thông đạt khó có thắng diệu pháp môn, là chủ của Đại Phạm Thiên Vương và hàng ngàn Đại Thiên Thế Giới. Vì Như Lai mà sanh tâm hy hữu. Chư Phật khó có và có vô lượng bất khả tư nghì các cảnh giới không cùng tận. Đại Phạm Thiên chủ tức thời quy y làm đệ tử Phật. Nương nơi Thế Tôn thỉnh cầu chỉ dạy và nói lời rằng: Đức Bà Già Bà là Thầy của con. Tu Già Đà là Thầy của con. Kính mong Thế Tôn chỉ dạy cho con trụ ở chốn nào, hành pháp môn gì ?
Phật bảo Phạm Thiên: Ba ngàn Đại Thiên Thế Giới nầy là đất của Phật. Ta nay phụ thuộc vào đây, hãy biết theo ta mà tạo sự chơn chánh, có mắt nhìn đời đoạn tuyệt. Vô Thượng Phật nhãn, Pháp nhân và Tăng nhân cũng nên đoạn tuyệt. Sau đó tự động sẽ biến thể. Nầy Phạm Thiên! Vị lai sẽ có vị Trưởng Tử đồng chơn Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát từ miệng Phật mà sanh, từ pháp hóa sanh. Vì tâm đại bi vô cùng mà làm lợi ích chúng sanh. Vì sự an lạc và sự an ổn của chúng sanh mà xuất hiện. Ngài vì 3 ngàn thế giới như pháp mà được bổ xứ, như ta nơi đây không sai khác, cũng hay tùy thuận như ta đang dạy, lại cũng thuận lợi đoạn tuyệt với pháp chơn đạo của Phật nhân, Pháp nhân và Tăng nhân. Vì sao vậy ? Nầy Phạm Thiên! Chi đến các pháp căn bản nầy không đoạn tùy theo thời mà Phật nhân, Pháp nhân, Tăng nhân được phép không đoạn tuyệt. Mắt của Thích Phạm Thiên, mắt người giải thoát cho đến mắt Niết Bàn được không đoạn tuyệt. Này Phạm Thiên! Do vậy ta phụ thuộc vào Phật độ và ba ngàn Đại Thiên Thế Giới vậy. Nầy Phạm Thiên! Ta nay đã dạy, hãy nên tùy thuận. Vì đời người sau mà làm vậy. Lúc bấy giờ ba ngàn Đại Thiên Thế Giới có các Phạm Thiên và Đại Phạm Thiên, tất cả đều vì Thánh Pháp nầy mà được chánh tín. Chủ ba ngàn Đại Thiên Thế Giới là Đại Phạm Thiên liền trong Thánh Pháp nầy mà được chánh tín sâu xa.
- Phẩm Thương Chủ thứ hai
Lúc bấy giờ có ma con tên là Thương Chủ qua lời Phật dạy đã kính tin một cách thâm sâu, khi nghe Phật nhập Niết Bàn tâm liền sầu khổ, tóc trên đầu dựng đứng lên. Liền đến chỗ Phật đê đầu đảnh lễ. Sau đó lui ra và hướng về phía Phật bạch rằng :
Duy nguyện Thế Tôn! Ngài có lòng từ đối với chúng sanh, làm cho chúng sanh an lạc, là bậc cứu giúp thế gian, cũng đã làm lợi ích cho Trời Người nữa. Mong Ngài hãy trụ thế thêm một kiếp nữa mới vào Niết Bàn. Con cùng với chư Thiên và loài người kính khuyến thỉnh Ngài như vậy. Kính bạch Thế Tôn. Khiến cho chúng sanh như mắt bị mờ; không có ai nói cho chúng con nghe; không có người dẫn đường, không có người cứu giúp, không có chỗ nương nhờ và không có chỗ đến nữa.
Sau khi Thương Chủ thưa lời ấy rồi, Phật liền bảo rằng :
Nầy Thương Chủ! Cho ngươi là Ba Tuần, trước đã thỉnh ta nhập Niết Bàn và đã nói rằng: Bà Già Bà! Hãy vào Niết Bàn. Tu Già Đà! Hãy và Niết Bàn, hãy vào Niết Bàn! Tu Già Bà. Nay đúng là lúc ta phải vào Niết Bàn. Nầy Thương Chủ! Điều ấy cha ngươi là Ba Tuần đã yêu cầu ta. Ta đã tùy theo lời đó mà hứa sẽ nhập Niết Bàn. Nầy Thương Chủ. Đó là nhân duyên. Ta nay đã đến lúc mà phải giữ lời hứa để vào Niết Bàn.
Thương Chủ lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Đó chính là Ma Ba Tuần chứ không phải phụ thân của con ma cũng chẳng phải là thiên hữu của con. Nếu hay làm chuyện sát hại, con sợ rằng gia đình con được hiểu là đại ác; thường muốn cho con không được an vui và hòa hợp yên ổn. Hãy làm cho việc nầy mất đi! Không có gì lợi ích cả, thưa Thế Tôn. Loài ma ấy vì con mà làm chuyện đại ác, ngăn chặn trời người, làm chuyện đáng lo. Hãy vì ánh sáng trí tuệ, ánh đại quang minh mà làm đèn tiêu diệt vậy. Kính bạch Thế Tôn! Nếu có kẻ nào nói lời như vậy, điều ấy có nghĩa là trong chư thiên, loài người đã xuất hiện nơi đời một người cực ác vậy. Đây phải biết là Ma Ba Tuần vậy. Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu có người đích thực nói lời ấy, có nghĩa là người ấy chẳng làm lợi ích gì cho cá nhân, cũng chẳng làm lợi ích cho kẻ khác và nhiều chúng sanh khác để phát tâm. Phải biết rằng kẻ đó chính là Ma Ba Tuần vậy! Kính bạch Thế Tôn! Nếu lại có người nói thật điều đó thì phải biết người đó chẳng vì sự lân mẫn lợi ích cho chư Thiên, loài người, Ma Phạm, A Tu La, Sa Môn, Bà La Môn và tất cả thế gian vậy. Lại cũng chẳng phải vì muốn hòa hợp an ổn, làm cho người phát tâm bị thối lui khổ não. Điều nầy phải biết đó là Ma Ba Tuần vậy. Kính bạch Thế Tôn. Con đã từng nghe Phật dạy như thế nầy: Có 2 loại người. Loại thứ nhất như pháp; loại thứ 2 không đúng pháp, mà Thế Tôn đã hứa vào Niết Bàn tức không như pháp vậy. Duy nguyện Thế Tôn! Hãy làm cho lời hứa nầy đừng phát sanh nữa. Có như thế mới làm lợi ích an ổn cho chư Thiên, loài người và tất cả chúng sanh. Hãy bỏ lời hứa nầy mà ở lại với đời một kiếp nữa. Nếu như Phật ở đời lâu dài thì chư Thiên, loài người được lợi ích an ổn vậy. Cho nên Đức Thế Tôn đừng vội vào Niết Bàn.
Phật bảo Thương Chủ rằng : Lành thay! Lành thay! Nếu mà được sự lợi ích cho chúng sanh thì đúng như vậy. Nầy Thương Chủ! Nếu có người cúng dường lễ quán đảnh cho Đại Vương, hoặc có kẻ cúng cho Vương Tử, Đại Thần hoặc cho kẻ phòng giữ đất nước, thành ấp, làng xóm v.v... thì người nầy mỗi mỗi thuộc về vua, sẽ thọ được tước hiệu phước lộc, mà các vị vua nầy thường hay vì người và con cháu thân thuộc, cũng lại đầy đủ phước lộ để giúp đời. Nầy Thương Chủ! Nếu nay vì Như Lai mà cúng dường vô thượng pháp vương thì tâm sinh thanh tịnh. Khi thanh tịnh rồi, Như Lai giống như phước lộc nầy vậy. Ta nay giống như việc nầy. Từ Phật mà phát sanh tín tâm thiện căn thanh tịnh. Như vậy nên biết! Nầy Thương Chủ! Hãy biết điều tịnh tín căn lành nầy. Sau khi ta diệt độ, vì đời sau mà làm Bích Chi Phật, tên là Từ Mẫn Thương Chủ. Sau khi ta nhập Niết Bàn, chánh pháp diệt rồi thì Ma Ba Tuần rất vui mừng. Vì sự vui thú ấy mà đọa lạc vào Ma cung, sinh vào A Tỳ địa ngục, phải chịu nhiều nỗi khổ sở khác nhau. Vì sao vậy ? Vì lẽ Ma Ba Tuần đã thắng các ánh sáng, các sự yên ổn nên mới sinh tâm vui mừng như thế. Nầy Thương Chủ! Nếu có người đích thật nói với người khác như vậy thì chính người ấy cũng tự hại. Vì tự hại như vậy cho nên do việc làm nầy mà việc ác phát sanh. Phải biết rằng đây là Ma Ba Tuần vậy. Vì sao vậy ? Nầy Thương Chủ! Sau khi ta diệt độ cho đến khi chánh pháp ở đời, tùy theo thời tiết mà Ma Ba Tuần được ở vào Ma cung. Khi pháp của ta đã diệt rồi thì ma rất vui và luôn có ý xưng tán. Chỉ trong một tít-tắc rơi vào cung Ma, đọa vào A Tỳ địa ngục. Nầy Thương Chủ! Ví như có người ở trên cây cùng cây và hoa quả đầy đủ, thì người nầy tự xưng hoa quả; sau khi thọ dụng rồi lại phải ở trên cây. Nầy Thương Chủ! Vì sao vậy ? Có phải người ấy lúc bấy giờ có thể ở mãi trên cây chăng ? tại trên cây nầy có được an lạc chăng ? có được gọi là trí chăng ?
Thương Chủ thưa : Không phải vậy, thưa Đức Bà Già Bà. Không phải, thưa Đức Tu Già Đà.
Phật bảo : Nầy Thương Chủ! Ma cũng vậy! Luôn muốn Như Lai vào Niết Bàn. Cho nên để được vui, Như Lai đã nói chánh pháp Tỳ Ni. Từ Thương Chủ cho đến chánh pháp trụ thế, Ma Ba Tuần cũng tùy theo thời tiết mà được ở cung Ma. Khi pháp của ta diệt rồi thì Ma Ba Tuần có vẻ hoan hỷ xưng tụng ý nầy. Xuống đến cung Ma vào nơi địa ngục A Tỳ. Nầy Thương Chủ! dụ như người kia ở trên cây tự làm hại mình như vậy đó. Ma cũng như thế! tự mình hại vậy! Cũng lại làm hại người khác nữa, mà nên phát tâm. Nầy Thương Chủ! Ma nầy sau đó tùy thời mà đọa vào địa ngục thọ nhiều khổ bịnh. Như cướp mạng khổ, làm khổ tiếp nhau. Lúc bấy giờ mới nhớ nghĩ đến Như Lai ứng cúng chánh biến tri. Đây là lời nói chân thật! Là kẻ thành thật. Người nói không khác! Không là lời hư dối. Nói lời tốt lành. Lành thay thân đứng đắn đúng luật nghi. Lành thay mộng đúng với luật nghi. Lành thay! ý đúng với giới luật. Thân làm việc đúng. Khẩu nói điều đúng. Ý nghĩ đều đúng! Cho nên có thể được vui, được điều ưa thích, được từ ái nơi quả báo của ý. Nếu thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác thì sẽ không được vui, không được sự mong cầu, không được yêu thương, không được xưng tán. Họ từ xưa cùng với thân kia đã làm điều ác, tương ứng với mộng với ý; nên đã thọ nghiệp báo và nay đọa vào địa ngục, thọ lãnh như vậy các cực hình của thân và tất cả những khổ não. Chịu không thể nổi như mới chết vào đường khổ. Lúc đó Ma Ba Tuần đang hiện hữu. Làm cho họ nhớ lời nói để được sinh tín tâm. Khi sanh tín tâm rồi tức thời từ địa ngục kia mệnh chung thác sanh vào cõi trời thứ 33. Vì sao vậy ? Nầy Thương Chủ! Nếu có tâm ác thì nơi Như Lai làm cho các việc ấy qua đi, khi thân hoại mạng chung, bị đọa vào đại địa ngục. Nếu lại có tâm từ biết cúng dường Như Lai với kẻ không cầu thì khi mạng chung sẽ vào đường lành như Trời Người v.v... Kẻ kia nhờ căn lành nầy mà được gần Phật. Khi gần Phật rồi, liền sanh căn lành, các căn lành nầy tiếp theo sẽ được vô lậu Niết Bàn. Nầy Thương Chủ! Từ Như Lai mà biết sanh tín tâm thanh tịnh. Từ thiện căn nầy mà gặp Đức Di Lặc xuất thế. Sau khi gặp Phật Di Lặc rồi thì có thể giác ngộ về những sự ngủ nghỉ, phóng dật (buông lung) của chúng sanh v.v... liền nói lời rằng : Này các chúng sanh hãy dũng mãnh và nên làm các nghiệp thiện. Như Lai ứng cúng chánh biến tri ra đời thật khó thay. Như Hoa Ưu Đàm chỉ một lần hiện. Như Lai cũng chỉ xuất hiện một lần, không có chốn Niết Bàn, có lúc nói rằng thân người khó được, 8 nạn khó lìa, được gần Phật mà sanh ra thật là hy hữu. Điều ấy cho nên hãy thận trọng, đừng có buông lung! Hãy siêng tu hành, sau nầy khỏi hối. Nầy Thương Chủ! Khi nhận lãnh lời dạy của Đức Phật Di Lặc hãy lãnh lấy điều ấy. Vì Ngài là Vô Thượng Pháp Vương cùng nhân dân nơi đó đương có tâm từ, không ác, không giận hờn, có tâm bi, tâm lạc và có cả tâm hộ trì dưỡng dục vậy. Do thiện căn nầy mà tại cung điện của Ma làm chủ các ma, giàu có hơn lên, làm Vua Tự Tại. Nầy Thương Chủ! Nếu có chúng sanh ở nơi Như Lai mà sanh các căn lành, cho đến được phát một niệm thanh tịnh thì chúng sanh đó đã có căn lành gần nơi Cam Lồ. Cam Lồ số một trên các Cam Lồ. Nầy Thương Chủ! Từ căn lành nầy mà được báo thân làm Trời Người, sau khi trải qua 80 kiếp, thân sau sẽ thành Bích Chi Phật, có tên là Bi Mẫn. Vì sao vậy ? Nầy Thương Chủ! Vì sau khi nghe ta nhập Niết Bàn, từ chỗ ta mà sinh tâm thanh tịnh, từ chúng sanh mà sinh tâm Bi Mẫn. Vì tất cả chúng sanh mà được an lạc vậy. Cầu thỉnh ta ở lại đường vào Đại Bát Niết Bàn. Lại trong pháp hội của Đức Di Lặc cũng vì chúng sanh mà Bi Mẫn như thế. Làm cho chúng sanh khỏi hôn trầm và phóng dật. Luôn luôn nhớ nghĩ không sanh buông lung. Nói pháp lành xong, vì lẽ ấy mà được thọ ký thành Bích Chi Phật. Nầy Thương Chủ! Ta nay đang có những phước báo lành như vậy!
Lúc bấy giờ Thương Chủ lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu Phật không nhận lời thỉnh cầu của con mà vào Niết Bàn thì con nguyện từ bây giờ cho đến lúc pháp trụ sẽ lìa ngũ dục và chuyên trì hiếu đạo. Không du hí, không mặc áo khác, không cài hoa trên tóc và tẩm hương vào mình. Cũng không thọ dụng thắng báo của chư Thiên. Vì sao vậy ? Như vậy Thế Tôn, chúng sanh là vật quý đã cùng với con xa lìa xứ khác, chưa thể gặp mặt. Chưa có trở lại, chưa thấy nhau. Kính bạch Đức Thế Tôn! Con có niềm vui nào và sự tươi cười nào đâu! Sao có thể vui, sao có thể xứng ý ? Như vậy tối đại ánh sáng và trí tuệ quang minh! Nếu có người mất đi con sẽ vì họ mà làm những việc xưng tán hoan hỷ. Như vậy là mặt trời đại trí có vô lượng trăm ngàn ánh sáng quyến thuộc. Làm cho diệt trừ vô minh và tăm tối vậy, làm nên bậc có trí sáng suốt, như vầy chưa hết, con nay có nói cũng chẳng thể hết. Sao có niềm vui ? sao có nụ cười. Con đã đối với các chúng sanh trân quý nầy biệt ly từ lâu mà so sánh chúng sanh thì chúng sanh chẳng giảm, lại trong chúng sanh đó cũng có nhiều chúng sanh không có tội, không ngu si, là chúng sanh vô thượng tối thượng chúng sanh, không giống chúng sanh, không so sánh được chúng sanh, hay cứu tất cả chúng sanh, chúng sanh vi diệu chúng sanh, chúng sanh cùng chung chúng sanh, cộng thừa chúng sanh, điều phục chúng sanh, lân mẫn chúng sanh, là kẻ giác ngộ, là người nói thật, là người đúng thời, nói đúng lúc, không nói lời khác, như thuyết mà tu hành, ở trong đại bi vì các chúng sanh mà tâm vô quái ngại. Vì các chúng sanh mà có tâm bình đẳng, không hí luận, không có ta và không thuộc về ta, kẻ không chứa nhóm, không giữ nhà cửa, không nương tựa, không hoang phí, không dơ; kẻ hay cứu tế, kẻ chỉ đường, kẻ hóa đạo, kẻ hay giúp đỡ, hay cởi trói, kẻ dưỡng dục, kẻ hay nhớ nghĩ đến chúng sanh, hay làm cho chúng sanh tỉnh ngộ, kẻ chỉ bày và hay thắng thế, kẻ xa lìa, là ông vua trị nội tâm, là kẻ cho nhiều thuốc hay, là người độ cứu cánh qua khỏi sự khổ, là bậc Thương Chủ đúng nghĩa, hiện ra nơi xứ lành, kẻ mang đồ nhẹ, kẻ mang ánh sáng, làm cho sáng thêm, tạo ra ánh sáng, kẻ chiếu sáng, kẻ cho mắt, kẻ dẫn đường làm cho đến nơi chốn yên ổn, xa lìa tất cả dơ bẩn, không khát ái dục, xa lìa chúng. Đó là tham, sân, si, là kẻ xa lìa phiền não, kiêu mạn, phẫn nộ. Đó chính là kẻ đại trượng phu, diệu đại trượng phu, cực đại trượng phu, làm đại trượng phu, mãnh đại trượng phu, liên hoa trượng phu, Phần Đà Lợi trượng phu, đại trượng phu rồng, đại trượng phu thầy của rồng, sư tử trượng phu, thượng thủ trượng phu, sợ hãi trượng phu, mạnh mẽ trượng phu, voi trượng phu, vô thượng trượng phu, vô thượng điều ngự trượng phu, với người cùng đi, với người tất cả sức mạnh, được 4 điều không sợ, được đầy đủ 18 pháp bất cộng, người chứng được trí tuệ rộng lớn, đầy đủ vô lượng giáo pháp, kẻ không có tật đố, không có tất cả chứng nạn, trong vô thượng đại thí chủ là thí chủ tối thắng, tâm không ngờ vực, người chứng được đại thiền định, người chứng đến cảnh giới tam muội Tam Ma Bạt Đề; người có vô lượng trí tuệ, người không có chứng nạn của trí tuệ, chứng được cảnh giới không so sánh, người không lay động; qua khỏi chỗ bùn dơ, kẻ đến bên kia bờ; người ở bờ bên kia, đến chỗ không sợ hãi, trừ tất cả sự sợ hãi của chúng sanh; người luôn luôn an ổn, những người hiền của chúng sanh, sau đêm nay thời xa lìa, không thể thấy được nữa. Kính bạch Đức Thế Tôn. Như Lai đang ở trong đại chúng, tiếng hống của sư tử ấy không còn nghe được. Con làm sao có thể giải thích hết được.
Kính bạch Đức Thế Tôn : Ví như người đã được phước lộ quán đảnh của Vua Sát Lợi. Sau khi vua băng, sanh tâm sầu khổ, hiểu ơn dưỡng dục của vua, nhớ ơn dưỡng dục của vua, nhận được ân huệ của vua mà các chúng sanh nầy vì vua chuyên giữ hiếu đạo, hoặc một ngày hai ngày cho đến bảy ngày, từ nửa tháng cho đến một tháng thường hay nhớ nghĩ than khóc. Bạch Đức Thế Tôn! Con cũng như thế. Sau khi Như Lai diệt độ cho đến chánh pháp còn ở đời, tùy theo thời gian, xa rời 5 dục chuyên giữ đạo hiếu, không cười nói đùa giỡn, không thay đổi y phục, không cài hoa lên tóc, không xông hương vào mình và không thọ dụng quả báo của chư Thiên.
- Phẩm Đế Thích thứ ba
Lúc bấy giờ Thích Đề Hoàn Nhơn liền đến trước Phật, sau khi đảnh lễ lui ra và hướng về Phật bạch rằng : Duy nguyện Thế Tôn! Xin Ngài chỉ dạy cho con phải tu hành thế nào ?
Đức Phật dạy : Thuở xưa có một lúc, có 4 vị vua Đại A Tu La ăn mặc đồ trận cùng với quyến thuộc đến nơi cõi trời thứ 33 muốn giao chiến. Lúc bấy giờ Ngài Thánh giả Mục Liên vẫn còn tại thế, như vầy chư Thiên và A Tu La lúc đánh với nhau, Thánh giả Mục Liên đến 4 nơi A Tu La đang đánh mà hàng phục họ. Liền sau đó chư Thiên và A Tu La liền được an ổn. Lại chẳng chiến đấu để làm khổ với nhau cũng như cùng nhau tranh luận vô ích. Phật tiếp, sau khi Mục Liên nhập diệt rồi và nay thì Như Lai muốn vào Niết Bàn, chúng con cũng như thế, ai ai cũng lại muốn đấu tranh và làm phản. Nguyện chỉ bày cho, nếu 4 A Tu La cùng con lâm chiến, con đối với kia phải làm thế nào ?
Phật bảo Thích Đề Hoàn Nhơn rằng : Kiều Thi Ca, hãy dừng! đừng ưu bi, đừng sầu não, đừng tư lự. Nếu có kẻ giữ giới thì nguyện sẽ thành vì tịnh giới thành tựu. Nếu không có tịnh giới, phạm hạnh thì sẽ không trở thành kẻ cao thượng, kẻ lìa dục mà chẳng lìa dục, người lìa sân mà chẳng lìa sân, người lìa si mà chẳng lìa si, là kẻ có trí hay kẻ không trí, như vậy mà thành tựu. Kiều Thi Ca! Ta từ nay sẽ gia bị cho Kiều Thi Ca cho đến khi chánh pháp của ta chưa diệt, nếu có chư Thiên cùng A Tu La chiến đãu với nhau, tùy theo lúc mà xưng danh hiệu ta thì chư Thiên sẽ thắng. Lúc lấy giờ 4 vị đại vương A Tu La nghe Phật nói việc gia hộ rồi, tâm họ sân hận vô cùng liền đến chỗ Phật. Sau khi đảnh lễ rồi lui ra và hướng về Phật bạch rằng :
Kính bạch Thế Tôn! Tại sao Đức Phật lại gia hộ việc nầy ?
Phật bảo 4 đại A Tu La rằng : Nầy các ngươi! Đừng lo, đừng buồn! Có lúc quý vị cũng được Đại Tự Tại ở cõi trời thứ 33, sẽ không có chiến đấu, không tranh luận, không giày xéo nhau. Như vậy đó, không còn ham muốn chiến đấu, tất cả đều không muốn tranh luận. Hãy cải đổi tâm tánh lại bằng cách hãy dùng tâm từ bi, tâm lân mẫn mà tất cả đều đầy đủ. Nầy các ngươi! Cuộc sống không dừng lại, làm Tự Tại Chủ cũng bị vô thường. Nầy chư hiền giả! Thế gian nầy có tụ họp thì ắt có chia ly. Nầy chư hiền giả! Hãy xem Như Lai cũng lại vô thường, nên tất cả chúng sanh không nên sầu lo. Hãy đừng câu nệ tranh chấp mà nên hòa hợp. Tất cả chúng sanh nên pháp tâm một cách bình đẳng, đó là chưa kể căn lành còn mỏng lắm; nên đừng đấu chiến với nhau. Nầy các ngươi! Nếu có ai đó sanh tâm não hại người khác, thì kẻ nầy suốt đêm dài cũng bị não hại chi phối. Nầy các ngươi! Nếu có người ưa giết hại, thì kẻ ấy sẽ bị quả báo sống không lâu. Nếu kẻ nào ưa đấu tranh, người ấy bị chết vào nơi sợ hãi, không có đại gia đình, không có thế lực lớn. Nầy các ngươi! Lành dữ 2 nghiệp cuối cùng cũng không mất đi được. Cho nên vì lẽ ấy, từ nay về sau nên sống từ tâm, thân khẩu ý nên thể hiện nghiệp lành, không nên đấu tranh với nhau. Đây là nhân duyên. Cho nên suốt đêm dài sẽ được lợi ích an lạc. Sau nầy không hối, nói lời ấy rồi, 4 vị A Tu La lại hạch Phật rằng : Kính bạch Thế Tôn! Như thế đó Đức Bà Già Bà. Như thế đó Ngài Tu Già Đà. Chúng con sẽ theo như lời dạy của Đức Như Lai, sẽ tu như vậy, sẽ sống như vậy. Bạch Thế Tôn, con từ nay về sau sẽ bỏ tất cả các khí cụ đấu tranh mà làm việc lành.
Lúc bấy giờ khi Thích Đề Hoàn Nhơn nghe Phật sắp nhập Niết Bàn liền ưu sầu khổ não, khóc than mà bạch Phật rằng :
Kính bạch Thế Tôn! Con từ nay cho đến ngày cuối không thọ ngũ dục, không vào nội cung, không mặc y phục khác. Kính bạch Đại Đức Bà Già Bà! Ví như người chủ nhà mất thì mọi người phải có bổn phận lo liệu, tâm sanh khổ não và nhớ nghĩ công đức. Từ việc hiếu dưỡng nầy mà buồn khóc rồi sanh ra hiếu đạo. Kính bạch Thế Tôn! Con nay cũng vậy, cho đến cuối đời tùy lúc tùy nơi mà khóc thương để chuyển qua hiếu đạo, không làm chuyện ngũ dục, không vào nội cung, không mặc y phục khác. Vì sao vậy ? Vì lẽ vô thượng đạo sư sẽ ra đi, không thể thấy nữa, không thể gặp nữa. Sau khi Thích Đề Hoàn Nhơn nói lời ấy rồi liền cúi mặt xuống đất mà khóc.


---o0o---

Quyển 1 > Quyển 2
> Quyển 3 > Quyển 4 > Quyển 5 .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TAM THANH.( MHDT ).30/4/2012.