Saturday, 9 August 2014

Đạo đức học là một bộ phận của triết học nhằm dựa vào lý trí mà thiết lập một sự phân biệt giữa thiện và ác, giữa điều được làm và cấm làm, nhằm nêu ra một nguyên tắc tổng quát để xếp loại và đánh giá các hành động. Ðạo đức học nhằm nêu định cứu cánh của mọi hành động hợp lý mà con người cố vươn tới, tức mục đích lý tưởng của cuộc đời và tìm các phương cách giúp con người tiến tới mục đích lý tưởng ấy.

Đạo đức Phật giáo không phải chỉ là một bộ phận cấu thành của giáo lý đức Phật Thích Ca, mà còn là một bộ phận cấu thành nền văn hóa của mỗi dân tộc trên khắp thế giới. Bàn thảo đạo đức là vấn đề nóng bỏng của xã hội. Các nhà nghiên cứu giáo dục đang trên đường tìm kiếm giải pháp để giải quyết các vấn đề khủng hoảng đạo đức xã hội giữa những sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, khoa học kỹ thuật trong kỹ nghệ hiện đại….. Những sự phát triển ấy đã làm cho trái đất bị thu nhỏ lại, do đó thúc đẩy sự tiếp xúc giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau của các dân tộc trên khắp thế giới. Vấn đề được đặt ra là sự tiếp xúc đó có thật sự làm cho các dân tộc hiểu biết, thông cảm để cùng nhau hướng đến mục đích chung cho công cuộc xây dựng nếp sống đạo đức tốt đẹp, hay ngược lại gieo rắc thù hận, mâu thuẫn, đấu tranh ?. Lẽ tất nhiên hai mặt tích cực và tiêu cực đều tồn tại. Người viết thiết nghĩ đạo đức Phật giáo có thể đóng góp cho các nhà đạo đức và giáo dục tìm thấy những giải pháp thích hợp cho vấn đề vừa nêu. Bởi vì hiện thân của đức Phật và toàn bộ hệ thống giáo lý đạo Phật giải quyết các cuộc khủng hoảng tâm lý, phiền não của cá nhân cũng như tập thể, luôn luôn phục vụ cho hạnh phúc số đông. Ngài dạy:
“Ta ra đời vì mục đích đem lại lợi ích, an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người, vì lòng thương tưởng đời”[1]
Thực tế, dù chưa hình thành một hệ thống đạo đức Phật giáo, nhưng con đường sống theo đức Phật là con đường sống xây dựng hạnh phúc cho số đông, đem lại an lạc hòa bình cho xã hội nên tự nó đã mang đầy đủ ý nghĩa của nền đạo đức Phật giáo. Đây là lý do mà người viết muốn giới thiệu tinh thần đạo đức Phật giáo qua kinh Tạng NiKàya.
Nếu hiểu đạo đức là con đường sống đẹp cho cá nhân và tập thể, thì toàn bộ hệ thống giáo lý đạo Phật sẽ có rất nhiều vấn đề giới thiệu và thảo luận liên hệ đến đề tài trên. Nhưng ở đây người viết chỉ trình bày một số phần nhỏ về đạo đức Phật giáo nhằm góp phần làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu về đạo đức Phật giáo.
B/ NỘI DUNG
I/ Khái quát về đạo đức học và đạo đức học Phật giáo
l/ Khái quát về đạo đức học
Trước hết đạo đức học là môn học nêu ra những phán định, những mệnh lệnh do ý thức (hay lương tâm) đưa ra để định hướng cho hành vi của người. Đạo đức học phân biệt điều thiện, điều ác, những gì nên làm, những gì không nên làm, nói đến những bổn phận, trách nhiệm và ấn định nguyên tắc để phê phán hành động, nói đến tiêu chuẩn đánh giá hành động, nguồn gốc đạo đức.
Tự điển Dugo bert D. Runce (1970) định nghĩa:
“Đạo đức là môn học liên hệ đến các phán xét về điều chấp nhận hay phủ nhận đúng hay sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của các hành vi của con người”
Tự điển Mc. Grawhill Book Company. New York, Toronto, London (1959) ghi:
“Đạo đức là môn học về cách cư xử của con người, không phải chỉ để tìm thấy sự thật như thật của sự vật, mà còn tìm hiểu giá trị hay điều kiện của các hành vi con người, là khoa học về đức tính con người, liên hệ đến các sự phán xét về bổn phận hay nghĩa vụ (cái đúng, cái sai, cái phải bàn) và liên hệ tới các phán xét về giá trị (tốt hay xấu)”.
Như thế, đạo đức học là môn học đánh giá các hành vi của con người biểu hiện qua, thân, lời và ý, được thực hiện bởi lý trí, tình cảm và ý chí.
Đây là một môn học rất khoa học, nó nghiên cứu, đánh giá các hành vi của con người một cách chặt chẽ, xem hành vi nào đáng được chấp nhận,  hay phủ nhận, nó thuộc thiện hay ác, tốt hay xấu….
2/ Khái quát về đạo đức học Phật giáo
Có thể nói toàn bộ kinh điển Phật giáo là một trình bày đạo đức học. Khi tuyên bố mục đích tối hậu của mọi hành động đạo đức là để giải thoát khỏi khổ đau, Phật giáo đưa ra những lý lẽ phân tích về con người về khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ, hạnh phúc tối hậu và con đường thoát khổ, đó là bốn Thánh Đế. Trong khi tìm đạo lớn, đức Phật quả quyết:
“Ta sẽ đem lại ánh sáng trí tuệ cho cuộc đời đang bị bóng tối che phủ. Ta sẽ giải thoát cuộc đời khỏi sự già chết và mọi sự đau khổ”. Khi đã thành đạo Ngài tuyên bố: “Nước biển chỉ có một vị mặn, giáo lý của ta  chỉ có một vị là vị giải thoát”.
Mục đích của mọi hành động là nhằm để giải thoát, sự giải thoát tối hậu, vô ngã, Niết bàn. Đức Thế Tôn đã thiết lập một nền đạo đức toàn diện chuyển hóa con người từ xấu trở thành tốt, từ ác thành thiện, từ mê lầm trở thành giác ngộ. Toàn bộ giáo lý của Ngài chỉ vì mục đích mang hạnh phúc cho chúng sanh. Điều này thể hiện qua lời khuyên của Đức Phật: “Hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và cho loài người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỳ kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, và hậu thiện có nghĩa, có văn, hãy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh”[2]
Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh: “Một đời sống đạo đức, là một đời sống hạnh phúc”. Như vậy, đạo đức được hiểu đồng nghĩa với hạnh phúc, đạo đức này phù hợp với mọi căn cơ, mọi không gian và thời gian, mang đầy tính nhân bản thực tiễn và rất thực tại.
Nền đạo đức Phật giáo được thể hiện phong phú và đa dạng trong khắp giáo lý của Phật giáo, tùy chủ thể nhận thức và phương pháp tiếp cận mà mỗi người nhận định khác nhau về giá trị đạo đức.
II/ Tinh thần đạo đức Phật giáo qua kinh Tạng Nikàya
1/ Đạo đức chính là hạnh phúc an lạc giải thoát
Khi Đức Phật tuyên bố “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ”[3]
Lời tuyên bố xác nhận tất cả lời dạy của Ngài đều hướng đến mục đích duy nhất của Ngài là cứu khổ độ sanh. Trong kinh “Chuyển pháp luân”, bài kinh đầu tiên Ngài thuyết giảng ở vườn Lộc Uyển, Ngài đã tuyên bố: “Đây là khổ, đây là khổ cần phải được biết, đây là khổ phải được biết. Đây là khổ tập, đây là khổ tập cần phải đoạn trừ, đây là khổ tập đã được đoạn trừ. Đây là khổ diệt, đây là khổ diệt cần phải chứng ngộ. Đây là con đường đưa đến khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt cần phải hành trì. Đây là con đường đưa đến khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt đã được hành trì. Không những vậy Ngài còn khuyên các đệ tử xuất gia của Ngài “Hãy du hành vì hạnh phúc của quần sanh, vì lợi sanh, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người”[4]
Lời dạy cho giới Tỳ kheo xuất gia của Ngài đặc biệt nhấn mạnh: “Một đời sống đạo đức là một đời sống hạnh phúc, giải thoát. Thành tựu năm pháp, vị Tỳ kheo ngay trong hiện tại, sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có diệt não, sau khi mạng chung chờ đợi là cõi lành. Thế nào là năm ?. Tỳ kheo có lòng tin, có lòng hổ thẹn, có lòng sợ hãi, tinh cần, tinh tấn và có trí tuệ ”[5]
Một lời dạy tiếp, liên hệ giữa đạo đức và hạnh phúc giải thoát cho người và cho mình: “Thành tựu năm pháp, Tỳ kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người. Thế nào là năm? Vị Tỳ kheo tự mình đầy đủ giới hạnh và khuyền khích người khác đầy đủ giới hạnh. Tự mình đầy đủ thiền định, và khuyến khích người khác đầy đủ thiền định. Tự mình đầy đủ trí tuệ và khuyến khích người khác đầy đủ trí tuệ. Tự mình đầy đủ giải thoát và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát. Tự mình đầy đủ giải thoát tri kiến và khuyến khích người khác đầy đủ giải thoát tri kiến. Đầy đủ năm pháp này các Tỳ kheo đem lại hạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người”[6]
Đối với Đức Phật, một đời sống có đạo đức là một đời sống hạnh phúc, một đời sống hạnh phúc là một đời sống đạo đức. Và luôn luôn đức Phật dạy các đệ tử hãy tôn trọng giới luật, tức là sống có đạo đức để đảm bảo một đời sống hạnh phúc giải thoát cho chính mình.
2/ Tinh thần bất bạo động từ, bi, hỷ, xã như là đạo đức
Từ bi là động lực chính đã thúc đẩy đức Phật đi tìm đạo giải thoát để cứu độ chúng sinh. Đức Phật không thể ngồi yên nhìn sự đau khổ hoành hành trong đời sống. Nghị lực, sức chịu đựng dẻo dai bền chặt của đức Phật trong khi vượt bao gian lao, khổ cực để tìm đạo cũng chính vì tình thương lớn lao đối với chúng sinh vậy.
“Người tu hành bồ tát phải lấy từ bi làm gốc. Cây bồ đề lớn mạnh nhờ bám sâu gốc rễ trong đất. Kẻ tu hành lấy từ bi lợi lạc hữu tình làm lẽ sống”.
Giáo lý của đức Phật tuy nhiều kể không xiết, tựu trung đều nhắm đến ba điểm chính: Bi – Trí – Dũng. Mở rộng tình thương, mở rộng trí tuệ, mở rộng nghị lực, mở rộng cho đến khi nào không còn thấy có biên giới nữa là thành Phật.
Đức Phật chủ trương thuyết vô ngã, quyết đập tan cái ta giả dối, cũng chính để chúng ta nhận rõ mình với người là một, ta với không phải ta vẫn như nhau, để chúng ta đừng nhận thấy ta là của riêng ta, chỉ thương ta và ghét người không thương ta. Như thế, thuyết vô ngã, tu hạnh vô ngã là những phương tiện để thực hiện tình thương rộng lớn vô biên, là từ, bi, hỷ, xã.
Chính đức Phật đã nói: “Ta nguyện đem thân ta chịu hết hằng hà sa số đau khổ của chúng sanh. Vì ta nguyện tế độ cho chúng sanh, nên ta mới nguyện thành Phật”. Rõ ràng muốn thành Phật để cứu độ chúng sanh, chứ không phải cứu độ chúng sanh để thành Phật. Vì chứa chấp tình thương bao la thế nên Phật đã có những lời dạy đệ tử có thể làm phương châm cho người đời.
“Không nên lấy oán báo oán, chỉ nên lấy ân báo oán”. “Trong thế gian này chẳng phải lấy oán trừ được oán, chỉ lấy nhẫn mới trừ được oán”.[7]
Lại nữa, đức Phật dạy chư đệ tử thực hiện pháp lục hòa trong đời sống hàng ngày, trong các mối quan hệ hổ tương của cuộc sống. Khi một mình vân du hóa đạo phương xa, phải tôn trọng tín ngưỡng của các tôn giáo khác cũng như các phong tục tập quán của mỗi một dân tộc hay bất cứ một địa phương nào, một xứ sở nào. Ngài đề cao và tôn trọng mọi tôn giáo, cũng như các hệ tư tưởng lấy lợi lạc chúng sinh làm cứu cánh, lấy hạnh phúc chúng sanh làm mục đích.
Niết bàn của Phật giáo được định nghĩa như là lợi lạc cứu cánh, hạnh phúc cứu cánh. Đạo Phật lại nhấn mạnh, hạnh phúc cứu cánh phải đạt tới  bằng tâm từ, bi, hỷ, xã. Tính chất từ, bi, hỷ, xã lại đồng nghĩa với bất bạo động, hòa bình. Nếu Niết-bàn là hạnh phúc cứu cánh của người tu hành theo đạo Phật thì lòng từ bi, từ mẫn, hỷ xã, hòa bình bất bạo động là con đường, phương tiện, dẫn đến mục tiêu đó. Hạnh phúc an lạc không phân biệt ranh giới, màu da, dân tộc, đất nước đối với bất cứ ai, vì vậy mà đạo Phật mang sứ mạng đoàn kết hòa hợp giữa mọi dân tộc trên thế giới.
3/ Tinh thần giới luật là nền tảng của đạo đức
Đức Phật khuyên các Phật tử tại gia nên sống giữ năm giới, làm mười điều thiện, “để ngay trong hiện tại, khỏi tâm khổ tâm ưu, trong khi lâm chung, tâm không rối loạn và sau khi mạng chung, được sanh thiện thủ thiên giới”.
Giới được xây dựng trên quan niệm rộng rãi về tình yêu phổ quát thương xót đối với tất cả mọi loài, là nền tảng đạo đức căn bản của giáo lý đạo Phật.
Kinh Đại Bát Niết Bàn, số 16 Trường bộ nói lên năm điều nguy hiểm cho người gia chủ nếu phạm giới sống trái giới luật. Một là sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Hai là bị tiếng dữ đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, đi vào với tâm thần sợ hãi bối rối. Bốn là khi mạng chung sẽ bị chết với tâm thần rối loạn. Năm là sau khi mạng chung sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ địa ngục. Trái lại, người giữ giới luật tức là sống đạo đức, được năm sự lợi ích. Một là sẽ có tiền của dồi dào vì sống không phóng dật. Hai là tiếng tốt đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Bốn là khi mạng chung, chết với tâm không rối loạn. Năm là khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh vào thiên thủ thiên giới.
Với những Kinh dẫn chứng trên chúng ta có thể thấy đạo đức Phật giáo liên quan mật thiết đến giới luật. Có được giới luật vững chắc thì có được đạo đức toàn diện. Đạo đức Phật giáo chính là một nếp sống hành trì giới luật đưa đến hạnh phúc và an lạc, ngay trong đời này và đời sau. Đây chính là một nếp sống chứ không phải là lời dạy luân lý, hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động.
Bước thêm nữa, đạo đức Phật giáo là một nếp sống bỏ ác hành thiện, từ bỏ bất thiện, thực hiện điều lành, như biết bao nhiêu lời dạy của đức Phật về điều này:
“Không làm mọi điều ác
Thành tựu các hạnh lành
Tâm ý giữ trong sạch
Chính lời chư Phật dạy ”[8]
Hay
“Ác hạnh không nên làm
Làm xong chịu khổ lụy
Thiện hạnh ắt nên làm
Làm xong không ăn năn”[9]
Các pháp môn đức Phật dạy đều là những phương pháp loại trừ các điều bất thiện và thành tựu các hạnh lành.
“Tham là bất thiện, vô tham là thiện, sân là bất thiện, vô sân là thiện. Sát sanh là bất thiện, không sát sanh là thiện. Lấy của không cho là bất thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện. Tà hạnh trong các dục là bất thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện. Nói láo là bất thiện, từ bỏ nói láo là thiện. Nói hai lưỡi là bất thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện. Nói lời độc ác là bất thiện, từ bỏ nói lời độc ác là thiện. Xan tham là bất thiện, từ bỏ xan tham là thiện. Sân là bất thiện, từ bỏ sân là thiện. Tà kiến là bất thiện, từ bỏ tà kiến là thiện. Như vậy, này Vacchagota, mười pháp là bất thiện, mười pháp là thiện”[10]
Đức Phật chế định giới luật nhằm mục đích giúp con người đoạn tận khổ đau, đưa con người đến giải thoát, giác ngộ. Là đệ tử Phật, dù xuất gia hay tại gia, vấn đề nghiêm trị giới luật bao giờ cũng cần thiết và quan trọng. Đức Phật dạy rõ mục đích hình thành giới bổn:
“ Để tăng chúng được cực thịnh
Để tăng chúng được an ổn
Để chặn đứng các người khó điều phục
Để các vị Tỳ kheo tốt được sống an ổn
Để chặn các lậu hoặc ngay trong hiện tại
Để đem lại niềm vui thanh tịnh chính đáng cho những người chưa tin đã có lòng tin.
Để làm tăng trưởng niềm tin thanh tịnh chính đáng cho những ai đã có lòng tin”[11].
Qua đó ta thấy mục đích của việc hình thành giới bổn để ngăn ngừa điều ác làm phát sinh và tăng trưởng điều thiện. Những việc tu tập giới rất quan trọng và lợi ích rất lớn lao đối với những ai hành trì giới luật. Do vậy, giới luật được xem là nền tảng, là nấc thang đầu tiên đi vào đại lộ giải thoát, hạnh phúc. Mà cuộc sống hạnh phúc giải thoát chính là cuộc sống có đạo đức hoàn toàn.
4/ Giáo lý nhân quả - nghiệp báo là cơ sở để xây dựng đạo đức
Định luật nhân quả cũng như hệ luận của nó là định luật nghiệp báo trong hình thức thô sơ nhất vốn do nền đạo đức học Dravidian phát kiến từ nhiều ngàn năm trước Phật, đến khi đức Phật hành đạo định luật này được diễn thuyết thành giáo lý duyên sanh. Và chính trên căn bản duyên sanh Ngài đã chứng đắc chân lý thực tại vạn pháp là vô ngã. Tại đây giáo lý đức Phật đã hiển nhiên minh định luật nhân quả đóng một vai trò quan trọng và đặc biệt.
Điểm đặc biệt nữa của đạo đức Phật giáo là chấp nhận luật nhân quả nghiệp báo làm định luật chi phối hành vi thiện ác của mình. Đức Phật định nghĩa chữ nghiệp Kama từ động từ Karoti là hành động và hành động này là hành động có dụng ý (Cetana – tư tâm sở) tức là con người có ý thức rõ ràng hành động của mình, còn không có dụng tâm thời không gọi là nghiệp. Chính vị vậy đức Phật xác nhận con người là chủ của nghiệp.
“Tự mình, điều ác làm
Tự mình, làm nhiễm ô
Tự mình, ác không làm
Tự minh, làm thanh tịnh
Tịnh, không tịnh tự mình
Không ai thanh tịnh ai ?” [12]
Như vậy, chỉ có hành động, chỉ có nghiệp là quan trọng vì chính nghiệp mới đem lại kết quả tốt đẹp hay không tốt đẹp cho con người và con người mới thật là chủ nhân của nghiệp, tác thành ra nghiệp.
Con người sống có đạo đức hiểu luật nhân quả cần phải:
+ Nhẫn nại: Đã tin ở thuyết nhân quả nghiệp báo thì phải chấp nhận mọi sự việc xảy ra trong đời chúng ta, dù thuận hay nghịch đều không phải do ý muốn của thần thánh. Cũng không do ngẫu nhiên may rủi mà đều do nghiệp nhân quá khứ. Cái gì đến là phải đến phải nhẫn nại là sáng suốt và bình thản trước mọi hoàn cảnh thuận hay nghịch, tuyệt đối không bao giờ mất cảnh giác.
+ Tự tín: Nếu chúng ta sống đúng quy luật nhân quả nghiệp báo, hàng ngày cả đời nói thiện, làm thiện thì chúng ta là người tự do sống an nhiên tự  tại, không lo sợ buồn phiền, sống cống hiến cho đạo và đời hết mình.
+ Dựa vào sức mình: Nếu quá khứ ảnh hưởng quyết định đến cuộc sống hiện tại của chúng ta, thì cuộc sống hiện tại của chúng ta là cuộc sống hướng thượng được soi sáng bằng chánh pháp, sẽ quyết định tương lai an lạc và hạnh phúc.
+ Tự chế: phải thường xuyên tỉnh táo và cảnh giác trong mọi ý nghĩ, lời nói và hành vi dù là nhỏ cũng phải thiện lành, quang minh chánh đại hợp với chánh pháp, phải biết luôn luôn tự chế mình, không những không nói lời bất thiện, mà không để vọng khởi trong tâm mình điều bất thiện.
Đó là bốn bài học có ý nghĩa về giá trị nhân sinh đạo đức của thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật. Cuộc đời của chúng ta là cái quả do chính nhân chúng ta đã tạo ra.
“Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào như thế nào, thì người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy như vậy”[13].
Vững tin ở định luật nhân quả nghiệp báo bằng mọi việc xảy ra trên đời, đều là những kết quả phản ánh trung thành của một số nguyên nhân tạo tác. Cá nhân mỗi người sống theo nếp sống đạo đức thì xã hội chúng ta sẽ tươi sáng hơn. Nói cách khác, lợi ích đem đến cho chúng ta gồm hai mặt nhân sinh và xã hội:
+ Lợi ích nhân sinh: Đời người là kết quả của ý chí và năng lực hoạt động. Tùy hướng của ý chí hoạt động và tùy mức độ năng lực hành động mà cuộc đời mỗi ngưới có màu sắc không đồng nhau, luôn thay đổi. Nếu hướng thiện thì được an vui, nếu hướng ác thì đau khổ.
Thường thường chúng ta sống theo bản năng tự vệ và hành động thiên về tình cảm, ít ai sống theo lý trí chân thuần. Cái khác giữa người ngộ và người mê, giữa kẻ tốt và xấu là ở điểm lý trí chân thuần ấy.
Con người có đạo đức sống khuôn mình theo lý trí chân thuần, tránh điều ác, làm điều lành, luôn tìm phương tiện để thiện mỹ hóa tự thân và mưu cầu hạnh phúc cho nhân sinh. Phương pháp duy nhất là biết tôn trọng và hành động theo luật nhân quả.
+ Lợi ích xã hội: Xã hội là một cộng đồng người bao gồm nhiều cá nhân v.v…. Trong mối tương quan xã hội đó, hễ mỗi cá nhân, mỗi đoàn thể, mỗi tổ chức bị suy thái thì xã hội đó cũng suy thái theo, cho nên trong quan hệ nhân quả xã hội loài người nương nhau mà sống, duyên nhau mà tồn tại. Người hiểu rõ nhân quả, thực hiện theo lý nhân quả thì đối với xã hội, không nên sinh tâm ỷ lại vào ai, không quy trách nhiệm cho một thần bí nào, phải quy trách nhiệm về phần mình để tìm ra phương pháp cải tạo…, mọi người đoàn kết hòa hợp xây dựng một xã hội an lạc hanh phúc.
Từ lợi ích nhân sinh đến lợi ích xã hội cũng đủ minh chứng được rằng giáo lý nhân quả là một nền đạo đức cơ bản của Phật giáo. Nó xây dựng một nhân sinh tốt đẹp, cải tạo một xã hội tươi vui, hướng dẫn con người thực hành đến đích giải thoát giác ngộ.
5/ Sống đạo đức và hành thiền
Đạo Phật kêu gọi chúng ta hãy trở về  sống với con người thật của mình, không phải là con người đầy ưu tư lo lắng chạy qua chạy lại hàng ngày trên đường, cũng không phải là con người sống trong quyền lực giàu có, tranh giành …., lẽ sống đó đối với người sắp chết bỗng trở thành hoàn toàn vô nghĩa.
Sống như thế là sống với con người giả không phải là sống với con người thật, cho nên có tất cả không có hạnh phúc, không có sự thanh thản tâm hồn. Tâm mình cũng vậy, đâu chỉ có, chỉ là rung động cảm thọ… mà tâm người cũng là cả một đại dương sâu thẳm, với những lớp, những tầng mà con người, vì lăng xăng hướng ngoại, cho nên cần phải  chú ý tới thiền định.
Hiện nay, trên thế giới, đặc biệt là các nước phương tây, Phật giáo  thiền được coi trọng đặc biệt là thiền không những là một phương pháp điều thân, điều tâm giản dị và hữu hiệu, giúp thân tâm điều hòa mà thiền còn là cả một nếp sống, một lối sống an lạc, đạo đức và hướng thượng, một lối sống an toàn nhất, ra khỏi cuộc sống căng thẳng ồn ào của nền văn minh vật chất hiện đại.
Điều kỳ diệu là phương pháp thiền Anapanasati, do đức Phật đích thân giới thiệu trong nhiều bài kinh, thuộc kinh Tạng Pàli thực là giản dị, dễ làm, ai cũng có thể thực hành được, mà công dụng thực là vô cùng to lớn. Hành Thiền không những cho chúng ta sức khỏe mà còn cho chúng ta một hiệu năng công tác không thể lường, một trạng thái hài hòa và bình thản nội tâm kỳ diệu. Đó chính là niềm an lạc và hạnh phúc chân chính, cao cả,  hướng thượng mà con người vẫn mơ ước. Điều kiện tiên quyết của hành Thiền có kết quả là nếp sống đạo đức, xa lìa những dục vọng thấp hèn và các pháp bất thiện, chỉ có đoạn trừ mọi pháp bất thiện, xa lìa dục vọng thấp hèn, thì người hành Thiền mới hưởng được, cảm nhận được niềm hỷ lạc của Thiền.
Sống đạo đức và hành Thiền, đó chính là lối sống lý tưởng, an lạc hạnh phúc cho bất cứ ai đã cảm nhận tất cả cái vô nghĩa rỗng không của một cuộc sống chạy theo dục lạc vật chất thấp hèn và đang tìm một lối thoát.
Sống đạo đức tức là sống thân làm điều lành, miệng nói lời lành, ý suy nghĩ lành, hành Thiền là pháp môn huấn luyện chúng ta khả năng làm điều lành về thân, về lời, về suy nghĩ.
“Khi tâm tham, sân, si khởi lên, biết rằng tâm có tham, sân, si khởi lên. Tâm không tham, không sân, không si khởi lên biết rằng tâm không có tham, sân, si khởi lên…. Biết được tâm đang quảng đại hay hẹp hòi, biết rằng tâm có định hay không có định, hành giả quán tánh sanh diệt của tâm và giữ chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ một vật gì trên đời”[14]
III/ Sự đóng góp của đạo đức Phật giáo đối với đời sống xây dựng  hạnh phúc gia đình và xã hội
Ðức Phật đã giảng dạy giáo lý giải thoát khổ đau của Ngài một cách thiện xảo đáp ứng nhiều căn cơ khác nhau trong các nguồn văn hóa khác nhau, khiến mọi người đều có thể bằng nỗ lực của chính mình tìm thấy an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại, từ cấp độ tương đối đến tuyệt đối.
1/ Đời sống đạo đức Phật giáo xây dựng gia đình hạnh phúc
Qua nhiều kinh được kiết tập trong Nikàya và Agama, căn bản là kinh Đảnh lễ sáu phương (hay kinh Thiện sinh) và kinh Sư Tử Hống thuộc Trường bộ kinh, đức Phật đã dạy cho chàng thanh niên Singàla, người thường đảnh lễ sáu phương để cầu mong được che chở, có vận may, 14 điều phải thực hiện để được sáu phương che chở và có thể thành người che chở, sáu phương rằng:
- Không làm bốn việc: Trộm cắp, sát sanh, tà hạnh, nói dối.
- Không hành động vì bốn động cơ: Tham, sân, si, sợ hãi.
- Không phung phí tài sản theo sáu cách: Rượu chè, cờ bạc, đam mê nữ sắc, kết bạn với bạn xấu, la cà đình đám hý viện, la cà đường phố phi thời.
Ðây là 14 điều xây dựng nên một người xấu, không làm 14 điều ấy là xây dựng tự thân thành một người tốt, đạo đức.
Ðức Phật còn dạy Singàla xây dựng tốt sáu mối tương hệ của con người trong xã hội thì sẽ được may mắn, hạnh phúc:
a/ Tương hệ giữa cha mẹ và con cái
Ðây là mối tương hệ thiêng liêng đáng được đảnh lễ. Và ý nghĩa đảnh lễ đích thực là quay về thực hiện các điểm:
- Cha mẹ nuôi con ăn học tốt.
- Khi con lớn, lập gia thất cho con nơi xứng đáng.
- Lúc cha mẹ lớn tuổi, trao tài sản cho con.
- Con cái biết kính trọng, vâng lời cha mẹ.
- Lo học hành chăm chỉ.
- Giúp đỡ cha mẹ khi cần.
- Phụng dưỡng cha mẹ khi già.
- Lo đám tang cho cha mẹ hẳn hoi theo phong tục, tập quán.
b/ Tương hệ giữa chồng và vợ
* Chồng đối với vợ:
- Thương yêu vợ.
- Trung thành với vợ.
- Săn sóc đời sống vật chất cho vợ.
- Kính trọng gia đình vợ...
* Vợ đối với chồng:
- Thương kính chồng
- Trung thành với chồng.
- Quản lý gia đình tốt.
- Siêng năng làm việc.
- Ðối đãi với gia đình chồng và bạn bè của chồng.
c/ Tương hệ giữa thầy và trò
* Thầy đối với trò:
- Dạy tốt
- Dạy nghề cho trò để khi vào đời có thể sinh sống.
- Chọn bạn tốt cho học trò (giới thiệu bạn tốt cho học trò).
* Trò đối với thầy:
- Học tốt, chăm chỉ
- Vâng lời chỉ dạy của thầy.
- Giúp đỡ thầy khi cần.
d/ Tương hệ anh em, bà con, láng giềng
- Giữ tình cảm chung thủy, không bỏ nhau khi khó khăn.
- Giúp đỡ nhau khi ốm đau, khó khăn.
e/ Tương hệ giữa chủ và thợ (người phụ việc)
* Chủ đối với thợ:
- Trả lương tương xứng với việc làm.
- Thỉnh thoảng cho thêm tiền thưởng.
- Săn sóc giúp đỡ thuốc men khi đau ốm.
* Thợ đối với chủ:
- Hết lòng lo việc.
- Trung thành với chủ.
- Thành thật phục vụ.
f/ Tương hệ giữa tu sĩ và cư sĩ
* Tu sĩ đối với cư sĩ:
- Thương tưởng dạy pháp cho cư sĩ.
- Trao truyền kiến thức cho cư sĩ.
* Cư sĩ đối với tu sĩ:
- Thương kính giúp đỡ các v?t dụng cần thiết.
- Tiếp thu chánh pháp.
Nhân tinh hay nhân bản tính, thường xuất hiện trong tương giao của con người. Xây dựng tốt 6 mối tương giao ấy là xây dựng tình người và hạnh phúc.
Về hạnh phúc gia đình, Phật dạy thêm các điểm:
- Quân bình sức khỏe và tâm lý.
- Sống điều độ.
- Kết bạn tốt (có tín, thí, giới tuệ)
- Quân bình chi thu (thu lớn hơn chi)
Về chi tiêu, tiền lời thu được nên phân phối như sau:
- 1/4 dùng thường chi cho gia đình.
- 1/4 dùng vào bất thường chi.
- 2/4 đầu tư thêm vào vốn.
Giản lược hơn, một cư sĩ muốn được hạnh phúc trong đời này và đời sau thì thực hiện 4 điều: tín, thí, giới, tuệ.
TÍN: tin vào sự chứng ngộ của Thế Tôn, tin vào pháp mà Thế Tôn thuyết giảng là có khả năng đoạn tận khổ.
THÍ: Sống khoan dung, thương người, hay giúp đỡ người.
GIỚI: Giữ gìn năm giới tại gia.
TUỆ: Có chánh kiến.
2/ Đời sống đạo đức Phật giáo đối với người ngoài đạo
Những ai không phải là một Phật tử vẫn có thể thực hiện lời dạy của Thế Tôn dành cho Singàla. Ðấy là nếp sống đạo đức rất là người, rất là trần thế. Thuật ngữ Phật giáo gọi nếo sống ầy là hàng "nhân thừa".
Những Phật tử tại gia và những ai không phải là Phật tử có thể sống hộ trì ba nghiệp thân, lời và ý theo 10 điều đức Phật qui định gọi là thập thiện nghiệp thì sẽ an lạc trong hiện tại và được hưởng phước của các cõi trời dục giới trong tương lai. Mười điều thiện là:
- Không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh.
- Không tham, sân, si (hay chế ngự tham, sân, si).
- Không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời thô ác, không nói lời mị người.
+ Thái độ hộ trì, chứng ngộ và chứng đạt chân lý:
- Cho rằng những điều mình đang tin ưởng là đúng và nắm giữ chúng, nhưng không phải chỏ có những điều mình tin tưởng là đúng, còn những điều khác tin tưởng là sai. Như thế là hộ trì chân lý.
- Sống theo những điều mình tin tưởng cho đến khi thấy rõ sự thật của những gì tin tưởng, gọi là chứng ngộ chơn lý.
- Thực hiện trọn vẹn sự thật đã tin tưởng và chứng ngộ, gọi là chứng đạt chơn lý.
- Có thái độ thân hữu với các người ngoài đạo, chỉ bàn thảo, trao đổi những điểm gặp gỡ, và gác lại những điểm sai biệt mà không tranh cãi.
3/ Đời sống đạo đức Phật giáo xây dựng hạnh phúc xã hội
+ Thế Tôn dạy về 7 điều thường làm của một xã hội hưng thịnh:
- Thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.
- Thường hay tụ họp trong niệm đoàn kết, làm việc trong niệm đoàn kết và giải tán trong niệm đoàn kết.
- Không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành.
- Tôn kính đảnh lễ các bậc trưởng lão, biết nghe theo lời dạy của những vị này.
- Không bắt cóc và cưỡng ép các phụ nữ và thiếu nữ.
- Tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu, không bỏ phế các cúng lễ từ trước đúng với qui pháp.
- Bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A la hán... [15]
+ Khi xứ sở suy yếu, loạn lạc thì cần chấn chỉnh kinh tế:
- Cho nông dân giống và dụng cụ canh tác cùng kỹ thuật canh tác.
- Cấp vốn cho thương nhân đầu tư.
- Trả lương đúng mức, bảo đảm đời sống cho các công nhân.
- Ðổi chẩn thí cho dân nghèo thay thế các tế đàn tốn kém.
+ Cấp lãnh đạo cần thực hiện 10 điểm gọi là thập vương tử pháp, đại để:
- Sống liêm khiết
- Lời nói nhu hòa
- Hy sinh vì quyền lợi của nhân dân
- Lắng nghe tiếng nói của nhân đân
- Nhẫn nhục, không được trả thù\
- Phục vụ hòa bình, không chủ chiến
- Làm theo ý dân. [16]
4/ Đời sống phạm hạnh qua đạo đức Phật giáo
Nếp sống đạo đức được thể hiện thuận lợi nhất là nếp sống phạm hạnh của những tu sĩ xuất ly gia đình.
Một tu sĩ Phật giáo là một người có quyết định đi thẳng vào mục tiêu phạm hạnh, hay gọi là thể hiện ngay tại đời này, trong chính tự thân niềm hạnh phúc chân thật, và giúp đời cùng thể hiện, là một tu sĩ Phật giáo có hai bổn phận chính:
- Học hỏi giáo lý và thực hành thiền định.
- Thuyết pháp cho đời về con đường thoát khổ.
a/ Về tự thân
Thực hành giới, định, tuệ
Về giới: hộ trì giới bổn Ba la Ðề Mộc Xoa để nhiếp tịnh 6 căn (hay ba nghiệp), nhờ đó dẹp tiêu đi nhiều rối loạn tâm lý. Mỗi niệm động tiêu thì mỗi nniệm tịnh sinh. Niệm tịnh ấy là niệm an lạc, hạnh phúc. Giới còn có tác dụng hộ trì an lạc cho các bạn đồng phạm hạnh và giữ không gây thương tổn đến hạnh phúc, an lạc của các loài chúng sinh chung quanh mình.
Về định: thực hành từ niệm xứ (hay 37 phẩm trợ đạo). Công phu thiền định là công phu đi thẳng vào nguồn an lạc, hạnh phúc ngay trong hiện tại và tại đây, sống với từng hơi thở hạnh phúc. Từ thiền định, hành giả đã cảm nhận an lạc. Từ sơ thiền đến tứ thiền, hay đến vô sở hữu xứ, hành giả sẽ có nhiều dịp, nhiều thời gian tiếp cận với nguồn hạnh phúc vô biên, với thật tướng, với tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Nhưng mục tiêu giải thoát chân thật không dừng lại ở đây. Hành giả thực hiện thiền định cho đến lcú thể nhập như thật trí, thành tựu mục đích giải thoát sau cùng: trí tuệ giải thoát hết thảy nhân khổ đau (tiêu trừ hết thảy lậu hoặc).
Về tuệ: nhận biết chánh tri kiến của phàm phu, chánh tri kiến của hữu học và vô học. Có được chánh kiến và chánh tư duy là hành giả đã loại ra khỏi tâm thức vô số phiền não dù chưa thành tựu giới bổn và chưa có công phu thiền định; đã tránh được nhiều hành vi gây tổn hại tự thân và tập thể. Mỗi cái thấy biết và suy nghĩ đúng chánh pháp, nghĩa là phù hợp với nếp sống đạo đức Phật giáo, đều có đi kèm theo nó niềm hạnh phúc, niềm tin tưởng, dù chỉ là nhất thời.
Nếu chánh kiến và chánh tư duy được nuôi dưỡng qua công phu hộ trì giới bổn và thực hành Tứ niệm xứ, thì hành giả sống trọn vẹn, hay hầu như trọn vẹn với nếp sống đạo đức của Phật giáo, và có nghĩa là hành giả sống với từng bước đi hạnh phúc ngay giữa trần gian này.
Sự thật hạnh phúc đó không có khoác một vẻ gì thần bí, kỳ bí hay siêu thực nào cả. Nó ở ngay trước mắt ta, trong chính ta, trong chính hơi thở và cái nhìn của ta, nếu ta quyết ý thực hiện.
Con đường thực hiện đó chỉ chuyển đổi tư duy, chuyển đổi cái nhìn và chuyển đổi ham muốn hướng về nguồn hạnh phúc của vô ngã mà không phải là hữu ngã, vị tha mà không phải là vị kỷ, vô dục mà không phải là dục, vô chấp mà không phải cố chấp.
b/ Về tương giao trong tập thể phạm hạnh
Vị tu sĩ thực hiện thêm nguyên tắc sống lục hòa song song với giới bổn Ba la đề mộc xoa (hay giới, định, tuệ) đó là:
- Thân hòa, khẩu hòa, ý hòa, lợi hòa, kiến hòa và giới hòa.
- Ðây là sự thể hiện hòa điệu cả thân và tâm với đời sống tập thể bên cạnh sự thể hiện hòa điệu của tự thân và của tự thân với pháp giới qua công phu điều hòa hơi thở, điều hòa thân và điều hòa tâm của thiền định.
c/ Về công tác hóa độ (độ sinh)
Một vị tu sĩ thồngthương làm tròn bổn phận của mình đã là đóng góp vào việc độ sinh rồi, nhưng chỉ ở hình thức tiêu cực. Tích cực hơn là thuyết pháp và hướng dẫn người đời tu học và thực hành giải thoát. Tích cực hơn nữa là hoàn bị tự thân đê xứng đáng là bậc mà phạm giải thoát cho cuộc đời. Bấy giờ thì vị tu sĩ cần hoàn bị 7 điểm:
- Hiểu rõ từ.
- Hiểu rõ nghĩa
- Hiểu rõ pháp
- Hiểu rõ thời
- Hiểu rõ hội chúng
- Hiểu rõ tự ngã
- Hiểu rõ căn cơ người đời. [17]
Một vị tu sĩ thành tựu 7 điểm này là vị tự mình thành tựu giải thoát và tự mình là ruộng phước cho đời.
Tất cả nội dung tu tập của một tu sĩ, người cư sĩ nếu muốn vẫn có thể thực hiện và đi đến cùng một kết quả giải thoát. Mọi người đời vẫn thế. Ðó là sự thật chung của cuộc đời.
Các cư sĩ tại gia nếu có thể, vẫn làm công tác giáo hóa độ sinh như một tu sĩ: có thể hướng dẫn các hội chúng cư sĩ tu tập, có thể thuyết pháp. Với các cư sĩ ở cấp độ tu tập này, đức Phật chỉ dạy thêm Tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để nhiếp chúng có kết quả tốt và đem lại nhiều lợi lạc trong sự nghiệp hộ đời.
C/ KẾT LUẬN
Qua sự trình bày trên chúng ta thấy đượctoàn bộ giáo lý của đức Phật thuyết giảng trong suốt 45 năm trong kinh tạng Nikàya là một hệ thống đạo đức Phật giáo. Hệ thống đạo đức ấy là nền tảng xây dựng cuộc sống văn minh cho dân tộc trên khắp thế giới.
Ðức Phật là bậc đã trọn vẹn Giải thoát. Ngài vạch con đường Giải thoát cho con người. Giáo lý đạo đức của Ngài không phải là tác phẩm của các văn gia đạo đức (écrivains moralistes) như La Rochefoucauld, La Bruyère, Vauvenarge... hay các triết gia đạo đức (philosophes moralistes), như Epicure, Aristote, Kant, Max Scheler. Ðạo đức học của Ngài có phần lý thuyết toàn hảo nhưng Ngài chú trọng đến phần thực hành mà Ngài đã thực hiện để đạt giải thoát. Một đạo đức học tuyên bố rằng đời là khổ, đây là khổ, tự nhiên bao hàm sự tuyên bố rằng mọi hoạt động của con người là nhằm thoát khổ, giải thoát. Ðạo đức học ấy là đạo đức học của giải thoát, tích cực, cụ thể, thực tiễn và lạc quan. Tích cực vì nó kêu gọi con người lên đường diệt khổ, nó khuyến khích sự tinh tấn, hành thiện; cụ thể và thực tiễn vì đối tượng giải thoát là con người, là cuộc đời ngay đây và bây giờ; lạc quan vì nó tuyên bố mọi người đều có đầy đủ khả năng giải thoát tối hậu.
Với Phật giáo, cái nhìn về con người, về xã hội, về thế giới và về khổ đau hay hạnh phúc đều có tính nhất quán. Nói cách khác, tất cả hiện hữu được nhìn dưới cái nhìn như thật về sự thật duyên sinh. Cái nhìn như thật ấy sẽ giúp con người thấy như thật khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, do đó mà thấy rõ con đường đi ra khỏi khổ đau, đi vào hạnh phúc chân thật. Ở cuối đường vào hạnh phúc miên viễn, cái nhìn và hạnh phúc là một, con đường là đích đến.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.9/8/2014.

No comments:

Post a Comment