Saturday, 20 October 2012

BÌNH GIẢNG KINH MÂU NI (tt và.
Bài kệ 2
Hạt giống đã sinh nay đã được đoạn diệt, không còn gieo trồng, không để cho sinh khởi và lớn lên trở lại. Đó là hạnh người xuất sĩ. Trong đời sống hàng ngày đừng để cho hạt giống đó được tưới tẩm, làm thế nào để tiêu diệt hạt giống đó. Một kẻ như thế được gọi là một Mâu ni. Làm như thế thì bậc hiền nhân lớn kia đã đã đạt tới được bình an thật sự.
Mình đã quyết tâm đoạn diệt hạt giống ái dục rồi thì không còn gieo trồng để nó sinh khởi và lớn lên trở lại. Tất cả chúng ta đều có hạt giống đó. Là người xuất gia chúng ta đã quyết tâm dứt bỏ nó. Chúng ta đã dứt khoát đoạn trừ rồi thì tại sao phải để cho hạt giống đó được tưới tẩm trở lại? Chúng ta đọc lại: Trong đời sống hàng ngày đừng để cho hạt giống đó được tưới tẩm, làm thế nào để tiêu diệt hạt giống đó. Một kẻ như thế được gọi là một Mâu ni. Làm như thế thì bậc hiền nhân lớn kia đã đạt tới bình an thật sự. Trước hết mình đạt tới sự bình yên, sự an lành. Giữ giới là được che chở. Vì vậy khi tụng giới xuất sĩ chúng ta biết giới đầu của khất sĩ nam và khất sĩ nữ là không dâm dục. Hễ có sự dâm dục thì không còn là một vị khất sĩ, một vị Mâu ni nữa, dứt khoát là như vậy. Đó là giới đầu tiên, chúng ta có phạm hạnh hay không là do giới đầu.
Bài kệ 3
Đã xem xét đất đai, đã quyết tâm vứt bỏ hạt giống xấu và không còn cung cấp chất ướt cho hạt giống ấy mọc lên. Vị Mâu ni khi buông bỏ được hí luận và đạt tới vô sinh thì không ai có thể tư lường được về người ấy nữa.
Đã xem xét đất đai: đất đai là tâm của mình (having looked deeply into the ground). Đã quyết tâm vứt bỏ hạt giống xấu và không còn cung cấp chất uớt cho hạt giống ấy mọc lên: Cung cấp chất ướt là tưới, nếu không có chất ướt thì làm sao hạt giống ấy mọc lên? Phải để cho hạt giống đó khô, đừng đem nước mà tưới. Những dụng cụ như điện thoại, laptop, nếu không khéo thì chính là chất ướt tưới cho hạt giống mọc lên rất mau. Những uy nghi giúp chúng ta cương quyết không cung cấp chất ướt cho hạt giống nẩy mầm sinh trở lại. Trong chùa chúng ta thực tập uy nghi, giới luật là chắc ăn nhất. Chúng ta cùng thực tập chung, người nào cũng thực tập như vậy, nhất định không sử dụng những bình tưới đó tại vì hễ tưới là mất bình an, là không còn được bảo hộ. Vị Mâu ni khi đã buông bỏ được hí luận và đạt tới vô sinh thì không ai còn có thể tư lường về người ấy nữa: Chữ hí luận là philosophical speculations. Đây là một dấu hiệu cho ta biết đó là một vị Mâu ni: một người không còn tranh luận về chủ thuyết, về ý thức hệ, về triết học. Vị Mâu ni phải im lặng, phải làm việc, phải nhổ hết tất cả sự ham muốn và vô minh. Đó là việc làm của một vị Mâu ni chứ không phải là việc học hỏi và đàm luận về triết học.
Chữ học trong đạo Phật có nghĩa là hành (siksa). Những giới điều trong giới bản được gọi là những học pháp. Học pháp là một phép thực tập, như sáu học pháp của Thức Xoa Ma Na là để thực tập chứ không phải để học hỏi, đàm luận. Đó là ý nghĩa của chữ Mâu ni: im lặng và thực tập, không tranh luận. Trong thời của Đức Thế Tôn sáu phái triết học tranh luận rất nhiều, có bốn phái theo duy vật chủ nghĩa và hai phái theo duy tâm chủ nghĩa. Họ tranh luận nhau để có được nhiều người theo. Đây là thái độ và lập trường của Đức Thế Tôn: Không vướng vào tranh luận, im lặng. Chữ Mâu ni có nghĩa là im lặng. Buông bỏ được hí luận và đạt tới vô sinh rồi thì không ai có thể tư lường được về người ấy nữa: Tư lường về người ấy trong nguyên văn là chữ samkha. Samkhati là tính toán, sử dụng những con số, sử dụng sự suy nghĩ và lý luận, nhận diện, gọi tên. Khi một vị Mâu ni buông bỏ được hết tất cả, đạt tới sự vô sinh thì chúng ta không thể liệt người đó vào được một trong những phạm trù của trí óc. Chúng ta không thể nói được về người đó vì người đó đã thoát ra khỏi sự suy nghĩ, đàm luận và những ý niệm. Chúng ta nói một vị Mâu ni là một nhà triết học không đúng mà nói là một nhà đạo học cũng không đúng. Chúng ta nói một vị Mâu ni là thánh không đúng mà nói là phàm cũng không đúng. Không có một ý niệm nào, một lời nói nào có thể diễn tả được một vị Mâu ni. Một vị Mâu ni không thể được nắm bắt bằng ý niệm hay bằng lý thuyết.
Trong tiếng Phạn có chữ anupalabhya, có nghĩa là bất khả đắc, không thể nắm bắt được. Chúng ta không thể đặt người đó vào trong một phạm trù nào của tư tưởng. Chúng ta không thể gọi người đó là nhà triết học hay nhà tôn giáo. Không có danh từ nào có thể dùng để gọi một vị Mâu ni.
Chúng ta không thể tư lường được về một vị Mâu ni, tại vì một vị Mâu ni đã bỏ hết mọi hí luận, lặng lẽ, không theo một chủ thuyết nào. Đó gọi là bất khả tư nghị, không thể đặt người đó vào một phạm trù của tư tưởng. Chúng ta cũng không thể gọi người đó là một nhà triết học, một nhà đạo học, một nhà khoa học hay một nhà tôn giáo. Chúng ta không thể gọi người đó bằng bất cứ một tên nào, không thể có khái niệm về người đó. Người đó đã thoát ra ngoài tất cả mọi khái niệm, đó là một vị Mâu ni.
Bài kệ 4
Kẻ ấy đã thấy biết được mọi nẻo sinh thú mà không còn muốn đi về một nẻo nào trong các nẻo ấy. Kẻ đã vứt bỏ được tham và si. Kẻ ấy không còn bận tâm lao nhọc theo đuổi bất cứ một cái gì nữa cả vì kẻ ấy đã qua được bờ bên kia.
Chữ sinh thú có nghĩa là nẻo về, nẻo về loài này hay loài khác gọi là tứ sinh cửu hữu. Thú là nẻo về như ngũ thú lục đạo tức là thiên, nhân, atula, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Có loài hai chân và loài bốn chân. Người đó biết tất cả các nẻo về nhưng không ham muốn đi về một nẻo nào trong những nẻo đó.
Đã vứt bỏ được tham và ái, kẻ ấy không còn bận tâm lao nhọc theo đuổi một cái gì nữa cả: Tư tưởng này, tuệ giác này sau được gọi là vô đắc hay vô tác (aprātitva), không theo đuổi gì nữa cả, không có mục đích (aimless), không còn muốn gì nữa hết. Kể ấy không còn bận tâm lao nhọc theo đuổi bất cứ một cái gì nữa cả vì kẻ ấy đã qua được bờ bên kia: Bờ bên kia là paramita. Trong bài kệ thứ tư chúng ta thấy hạt giống của tư tưởng vô đắc, tư tưởng paramita (đáo bỉ ngạn).
Bài kệ 5
Kẻ ấy đã vượt thoát tất cả, đã liễu tri tất cả, đã có tuệ giác, không còn vướng bận vào bất cứ gì, đã buông bỏ mọi tham cầu, đạt tới thảnh thơi nhờ diệt trừ tham dục. Kẻ ấy được các bậc hiền nhân gọi là một Mâu ni.
Bài kệ này định nghĩa thế nào là một Mâu ni.
Bài kệ 6
Kẻ ấy có tuệ lực, kẻ ấy được sinh ra từ giới và hành, chuộng tĩnh lặng, ưa thiền duyệt, ngày đêm chánh niệm, không còn bị sai sử bởi tập khí, kẻ ấy được các bậc hiền giả gọi là một mâu ni.
Tuệ lực là sức mạnh của trí tuệ, kẻ ấy có sức mạnh do trí tuệ đem tới. Tuệ giác là một sức mạnh. Vị Mâu ni là một người có sức mạnh do tuệ giác đem lại. Đạo Phật có nói tới ngũ lực: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Tín là niềm tin, tấn là sự chuyên cần, niệm là chánh niệm, định là sự tập trung và Tuệ là tuệ giác. Tuệ giác là một nguồn năng lượng, là một sức mạnh và một vị mâu ni có nguồn sức mạnh đó.
Kẻ ấy được sinh ra từ giới và hành: Giới được làm bằng chánh niệm, luôn luôn thức tỉnh, tinh cần. Hành là sự thực tập. Một vị mâu ni là một người được sinh ra từ giới luật và sự thực tập. Chúng ta thực tập giới luật bằng sự thực tập chánh niệm. Sinh mạng tâm linh của mình có được là nhờ giới và hành.
Kẻ ấy sinh ra từ giới và hành, chuộng tĩnh lặng, ưa thiền duyệt: Đó là hai sở thích của người ấy. Người đó không thích ồn ào, ưa cái vui của thiền định. Ngày đêm chánh niệm, không còn bị sai sử bởi tập khí, kẻ ấy được các bậc hiền giả gọi là một bậc Mâu ni.
Bài kệ 7
Kẻ ấy bước đi một mình, tinh cần, tỉnh thức, không còn bị khen chê động tới, như một con sư tử không còn run sợ trước âm thanh của bất cứ một loài thú nào, như một làn gió không bị vướng vào bất cứ một chiếc lưới nào, trong sáng như một dòng nước, tinh khiết như một đóa sen, đưa lối cho người mà không bị ai lôi kéo, kẻ ấy được các bậc hiền giả gọi là một bậc Mâu ni.
Đi một mình là một điều kiện của một vị Mâu ni. Dù cho có đệ nhị thân người ấy cũng bước đi một mình, là người biết sống một mình. Không đàn đúm, không cần phải có đám đông mới có hạnh phúc, người ấy luôn luôn có chánh niệm và độc cư. Độc cư không có nghĩa là sống một mình, độc cư có nghĩa là không đánh mất mình, luôn luôn an trú trong giây phút hiện tại. Điều này được diễn bày rõ ràng trong “Kinh người biết sống một mình”. Sống một mình không hẳn là phải xa lánh con người mà là không đánh mất mình, không có tham dục, tham dục là một thân thứ hai. Hình ảnh người bước đi một mình là hình ảnh của một vị Mâu ni (solitary life).
Tinh cần, tỉnh thức, không còn bị khen chê động tới: Được khen không động tâm mà bị chê người ấy cũng không động tâm. Như một con sư tử không còn run sợ trước âm thanh của bất cứ một loài thú nào: Khi con sư tử gầm lên thì tất cả mọi loài thú đều sợ. Nhưng khi tất cả loài thú kia la lên thì không một tiếng kêu nào làm cho sư tử sợ. Đây là một hình ảnh rất đẹp!
Như một làn gió không bị vướng vào bất cứ một chiếc lưới nào: Chiếc lưới kia có thể bắt chim, bắt thú, nhưng người xuất sĩ như một làn gió, không một màn lưới nào có thể bắt lại được. Hình ảnh này cũng rất đẹp, rõ ràng đúng là cách diễn tả của một thi sĩ.
Trong sáng như một dòng nước, tinh khiết như một đóa sen, đưa lối cho người mà không bị ai lôi kéo, kẻ ấy được các bậc hiền giả gọi là một bậc Mâu ni: Đây cũng là những hình ảnh rất đẹp! Hình ảnh một con sư tử không khiếp sợ trước bất cứ một loài thú nào, hình ảnh một làn gió không vướng vào bất cứ một chiếc lưới nào, hình ảnh một dòng nước trong, một bông hoa sen, đó là những hình ảnh rất đẹp của một vị Mâu ni đang bước đi một mình, ngồi một mình, không bị vướng bận.
Bài kệ 8
Vững như cây trụ trên bãi tắm, không bị ai xoay chuyển lung lạc, không còn đam mê, sáu căn thường tĩnh lặng, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một bậc Mâu ni.
Sáu căn thường tĩnh lặng tại vì người đó có khả năng hộ trì sáu căn, luôn luôn có mặt, nhận diện được những gì mình thấy, mình nghe, mình xúc cảm mà không bị những cái đó cuốn theo làm cho xôn xao. Người đó luôn luôn giữ được sự tĩnh lặng.
Bài kệ 9
Tâm vững chãi, đoan chính như một con thoi, ghê sợ những hành động thấp hèn, biết phân biệt rõ ràng đâu là tà, đâu là chính, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một vị Mâu ni.
Bài kệ 10
Biết tiết chế, không làm điều bất thiện, vị xuất sĩ, dù còn niên thiếu hay tuổi đã cao, biết sống tri túc, không bị ai thách thức và cám dỗ mà cũng không thách thức và cám dỗ ai, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một vị Mâu ni.
Bài kệ 11
Tiếp nhận thức ăn cúng dường, dù trước dù sau, dù hậu dù bạc, với tâm niệm bình đẳng, an nhiên, không khen chê, không kén chọn, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một vị Mâu ni.
Trong nguyên văn Kinh nói: Mình tới trước được cúng dường phần trên thì không khởi tâm vui thích, mình tới sau được phần giữa hay tới sau nữa được vét nồi thì mình cũng không giận, không buồn, tâm niệm hoàn toàn bình đẳng, không khen chê, không kén chọn. Đó gọi là một vị Mâu ni.
Bài kệ 12
Sống phạm hạnh, tuy còn trẻ tuổi mà không bị vướng mắc vào ai, không tự cao, không phóng dật, một mình đi thảnh thơi, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một vị Mâu ni.
Có thể có những vị Mâu ni 18 hay 20 tuổi, tuy còn trẻ mà không bị vướng mắc vào ai thì được gọi là một mâu ni. Hồi Đức Thế Tôn mới về thành Vương Xá lần đầu, những người tuổi trẻ đi xuất gia rất đông. Có người còn rất trẻ, khi nhìn hình ảnh của Đức Thế Tôn, họ rất thích và cũng muốn làm như Ngài. Họ muốn trở thành một vị Mâu ni trẻ tuổi. Xã hội Ấn Độ thời đó rất khao khát đời sống tâm linh đạo đức, đời sống tinh thần.
Bài kệ 13
Đã thấy được chân tướng của thế gian, đã đạt tới đệ nhất nghĩa đế, đã vượt dòng sinh tử, đạt tới vô sinh, chấm dứt được mọi hệ lụy và phiền não, kẻ ấy được các bậc thức giả gọi là một vị Mâu ni.
Đã thấy được chân tướng của thế gian: Thấy được sự thật ngoài đời, không còn ảo tưởng, thấy được mặt mũi thật, chân tướng của cuộc đời.
Đã đạt tới đệ nhất nghĩa đế: Kẻ ấy đã thấy được sự thật, không phải sự thật tương đối mà thấy được sự thật tuyệt đối là vô sinh bất diệt, vô khứ vô lai (paramārtha).
Bài kệ 14
Người cư sĩ vướng vào vợ con, phải chăm sóc lo lắng, thiếu điều kiện bảo vệ sự sống cho mọi loài, khó sống tiết chế và thiểu dục; người xuất sĩ trái lại, nhờ cát ái từ thân, sống thảnh thơi, có cơ hội giúp đời và bảo vệ sinh mạng cho mọi loài, sống tiết chế và thiểu dục một cách dễ dàng.
Cát ái là cắt đứt những dây ân ái. Đây là vấn đề hoàn cảnh, vấn đề tăng thân. Người cư sĩ cũng có thể làm được nhưng khó hơn nhiều, người cư sĩ sống tiết chế và thiểu dục rất khó tại vì mỗi ngày đều bị hoàn cảnh tưới tẩm hạt giống của ham muốn, hạt giống của dục. Các vị cư sĩ đa phần ăn mặn, không bảo hộ được sinh mạng của các loài chúng sinh, không bảo hộ được trái đất nhiều bằng người xuất sĩ. Người xuất sĩ sống tiết chề và thiểu dục rất dễ dàng vì được ở trong một môi trường có sẵn sự thanh tịnh. Người xuất sĩ ăn chay trăm phần trăm, làm giảm thiểu được khổ đau của mọi loài và chuyển ngược quá trình hâm nóng địa cầu dễ hơn. Người cư sĩ bận rộn việc gia đình, phải lo kiếm sống, phải giết hại sinh mạng, không có cơ hội sống tiết chế và tri túc. Đây là sự so sánh giữa hai nếp sống: một nếp sống tu tập rất dễ và một nếp sống tu tập rất khó. Ở Việt Nam người ta thường nói: Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ và thứ ba tu chùa, tu ở chùa dễ nhất. Cho nên đi xuất gia là khôn vì biết tìm con đường dễ mà đi.
Bài kệ 15
Con chim công cổ xanh khi bay lên không gian không thể nào sánh được với con thiên nga. Người thế tục vướng bận trong cuộc đời không thể nào so sánh được với người xuất sĩ đang ngồi thiền định một mình trên núi.
Con chim công cổ xanh, con chim công xoè đuôi ra rất đẹp, khi bay lên không gian thì không thể nào sánh với con thiên nga. Con thiên nga bay rất mau. Người thế tục vướng bận trong cuộc đời không thể nào so sánh với bậc xuất sĩ đang ngồi thiền định một mình trên núi: Đây là một hình ảnh khác rất đẹp của Kinh Mâu Ni: Bạch vân thâm xứ tọa thiền tăng. Một thiền tăng đang ngồi một mình ở chỗ núi rừng có mây bao phủ. Trong Sutta-nipāta có một Kinh, trong đó có một cư sĩ hỏi: “Thế nào là đời sống lý tưởng của một người xuất gia và thế nào là đời sống lý tưởng của một người tại gia?”. Chúng ta sẽ học Kinh này sau. Kinh Mâu Ni ở đây chỉ nói về người xuất gia nhưng Kinh trên có so sánh hai nếp sống, có rất nhiều điều Bụt gửi gắm và trông chờ ở người tại gia. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THICH NU CHAN TANH.MHDT.GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.( TINH THAT KIM LIEN.AUSTRALIA,SYDNEY.20/10/2012 ).

No comments:

Post a Comment